Chi phí thấp, nguồn nguyên liệu dồi dào... chính là nguyên nhân khiến công nghệ nhiệt điện than vẫn giữ một vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đi cùng với đó là cần giải quyết tốt vấn đề về môi trường.

Nguy co gay o nhiem moi truong tu nha may nhiet dien than ngay cang lon - Anh 1

Ảnh: minh họa

Đó là nhận định chung của các chuyên gia có mặt tại Hội thảo "Công nghệ nhiệt điện than và môi trường" được Bộ Công Thương tổ chức ngày 5.11 tại Hà Nội.

Nhu cầu nhiệt điện than tăng mạnh

Phát biểu mở đầu hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng chia sẻ, trong những năm qua, ngành điện Việt Nam đã có những phát triển hết sức ấn tượng, đáp ứng nhu cầu điện cho phát triển kinh tế xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, từ 10-13%.

Hệ thống điện của Việt Nam đã phát triển lớn mạnh, đứng thứ 31 trên thế giới và thứ 2 trong khu vực Asean với công suất hệ thống đạt 40.000MW, sản lượng điện sản xuất năm 2015 đạt 162 tỉ kWh.

Dự báo trong giai đoạn tới nhu cầu điện tại Việt Nam tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao. Theo tổng Sơ đồ điện VII điều chỉnh, tốc độ tăng trưởng cho giai đoạn 2016-2020; 2021-2025; 2025-2030 tốc độ tăng trưởng tương ứng là 10,6; 8,5, 7,5%. Công suất cực đại của hệ thống cho các năm 2020, 2925 và 2030 tương ứng là 4.200MW; 63.500MW; 90.500MW.

Theo đó để đảm bảo đáp ứng nhu cầu tăng trưởng trên, Quy hoạch điện VII đặt ra các mục tiêu cụ thể cho phát triển hệ thống điện Việt Nam đến năm 2020 đạt trên 63.000MW; 2025 đạt trên 87.000MW; 2030 đạt 120.000MW.

Tuy nhiên trong bối cảnh năng lượng tái tạo vẫn cần nguồn hỗ trợ, chi phí giá thành cao, tiềm năng thủy điện đã được khai thác đáng kể, nguồn khí cũng đang cạn kiệt, điện hạt nhân có nhiều lo ngại thì việc tiếp tục phát triển công nghệ nhiệt điện than là một giải giáp nhằm đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước trong giai đoạn tới.

Theo Quy hoạch điện VII, năm 2020 nhiệt điện than đạt 26.000MW. 2025 là 47.600MW. 2030 là 55.300MW. Tương ứng là 29,3%; 55%; 53,2%.

Đánh giá chung về giải pháp sử dụng nhiệt điện than, PGS.TS Trương Duy Nghĩa, Chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật Nhiệt Việt Nam đưa ra chia sẻ, tại Việt Nam, nhiệt điện than bắt đầu tăng trưởng từ sau năm 2000, khi Phả Lại 2 đi vào sản xuất. Ưu điểm của nhiệt điện than là cho giá thành sản xuất thấp (khoảng 7cent Mỹ/kWh). Vốn đầu tư không quá cao, thấp hơn thủy điện, điện mặt trời, điện gió, điện hạt nhân (khoảng 1.500 USD/kWh). Khả năng huy động công suất lớn nên sản lượng điện phát ra lớn. Không lệ thuộc vào địa điểm như thủy điện, thời gian xây dựng cũng không quá lâu (khoảng 3 năm).

Tuy nhiên, nhược điểm của nhiệt điện than là dùng khối lượng lớn nhiên liệu để sản xuất điện (chiếm 60% giá thành sản xuất điện). Là nguồn phát thải lớn các chất thải ra môi trường, đặc biệt là các chất thải rắn và khí, chi phí về đầu tư, vận hành và bảo dưỡng hệ thống xử lý môi trường tốn kém. Chiếm nhiều diện tích làm địa điểm xây dựng nhà máy điện, làm bãi chứa tro xỉ. Nhu cầu nước làm mát rất lớn, khoảng 80m3/sec cho 1 nhà máy điện 1.200MW.

Lo ngại chất thải phát ra môi trường

Một vấn đề rất được quan tâm đó là các chất phát thải ra môi trường của nhà máy nhiệt điện đốt than. Theo PGS.TS Trương Duy Nghĩa, sử dụng nhà máy nhiệt điện đốt than sẽ thải ra môi trường rất nhiều chất thải bao gồm cả chất thải rắn, chất thải nước, chất khải khí.

Bàn về chất thải từ các nhà máy này, TS Nguyễn Minh Hiến, nguyên Viện trưởng Viện năng lượng Việt Nam cũng nhận định, tro xỉ tại các nhà máy nhiệt điện đang có nguy cơ ô nhiễm môi trường rất cao, ảnh hưởng đến đời sống người dân khu vực xung quanh và có thể tác động đến sản xuất nông nghiệp.

Đề xuất phướng pháp xử ký, TS Hiến cho rằng, kinh nghiệm các nước trên thế giới áp dụng để kiểm soát chất thải từ các nhà máy nhiệt điện than là sử dụng công nghệ siêu giới hạn hoặc cao hơn nữa. Công nghệ này sẽ giúp giảm suất tiêu hao cho các nhà máy nhiệt điện đồng thời giảm lượng khí phát thải ra bên ngoài như CO2, SOX, NOX... đây là những tác nhân gây mưa axit.

"Nếu các nhà máy nhiệt điện than trong nước kiểm soát chặt chẽ được công nghệ ngay từ khi thi công thì việc phát triển các nhà máy nhiệt điện vừa đáp ứng được nhu cầu dùng điện cũng như bảo vệ môi trường" TS Hiến nói.

Báo cáo của Bộ Công Thương mới đây cũng cho thấy, tất cả các nhà máy nhiệt điện đang xây dựng và đã đi vào vận hành đều có Báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường thẩm định và phê duyệt.

Tuy nhiên vẫn tồn tại dự án có thay đổi hạng mục công trình bảo vệ môi trường so với báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt, như Nhà máy nhiệt điện Duyên hải 1 (thuộc EVN). Vì thế, các dự án này chưa được Bộ Tài nguyên và môi trường cấp giấy xác nhận hoàn thành các công trình, hạng mục bảo vệ môi trường.

Hiện chỉ có 2 nhà máy với công nghệ cũ nên không lắp đặt hệ thống xử lý SO2 là Phả Lại I và Ninh Bình, còn lại các nhà máy đã lắp đặt hệ thống lọc bụi tĩnh điện (ESP), hệ thống xử lý SO2 (FGD) và hệ thống SCR (Selective Catalytic Reduction) để xử lý NOx đạt Quy chuẩn Việt Nam về môi trường.

Cũng theo báo cáo, hiện có 20 nhà máy nhiệt điện than đang vận hành với lượng tro xỉ, thạch cao thải ra hơn 15,7 triệu tấn/năm. Tuy vậy, nhiều chính sách còn bất cập nên việc xử lý các chất thải tại nhiều nhà máy vẫn đang bị tồn đọng, tiềm ẩn những mối nguy hại cho môi trường.

Trước thực trạng này, Thứ trưởng Hoàn Quốc Vượng cho biết thời gian tới, Bộ Công Thương sẽ phối hợp với Bộ Xây dựng ban xây dựng các khuôn khổ pháp lý về công nghệ và môi trường cho các nhà máy nhiệt điện than. Xây dựng cơ chế chính sách, xử lý, sử dụng hiệu quả chất thải tro, xỉ làm nguyên liệu, xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật sử dụng tro, xỉ, san lấp mặt bằng,

"Khuyến khích các doanh nghiệp thay thế gạch nung tiến tới không sản xuất gạch nung thì lượng tro, xỉ hoàn toàn có thể xử lý được", Thứ trưởng Hoàng Quốc Vượng nhấn mạnh.

Tuyết Nhung