Minh họa của họa sĩ họa sĩ Đỗ Dũng.

Nguoi dan chuyen - Anh 1

(Trích tiểu thuyết “Ký sự Kẻ Báng”)

Trong câu chuyện này tôi chỉ là người dẫn chuyện. Tôi có số phận giời cho để mở đầu pho chuyện nghìn năm này. Vâng đúng là như thế. Tôi sinh ngày 22 tháng 12 năm 1950, vào giờ “gà lên chuồng”. Năm ấy mẹ tôi tản cư lên phố Giá trên Thái Nguyên. Đấy là một cái phố Đình Bảng mọc lên giữa xứ người, thời kháng chiến chín năm. Xứ quê Đình Bảng của chúng tôi vốn ở đất huyện Từ Sơn. Là quê hương của Lý Công Uẩn, tức Lý Thái Tổ, ông vua đầu triều Lý, chúng tôi gọi là đất phát tích. Người Pháp chọn đúng ngày 3 tháng Ba âm lịch, năm 1947, là ngày giỗ Lý Thái Tổ, để tấn công vào làng. Khi người làng tôi đang “tùng bi li” hương khói tế vua, thì một tràng dài súng liên thanh dội lên. Tấn công quê hương Lý Thái Tổ vào đúng ngày giỗ Lý Thái Tổ, một cú đánh phủ đầu không chỉ dành cho làng tôi, mà cho cả nước. Chúng giết hại mất hơn chục người. Sau cái ngày ấy, người trai làng sau này sẽ là cha tôi rời đội quân du kích của làng đi theo quân vệ quốc. Người gái làng sau này sẽ là mẹ tôi gồng gánh đi tản cư. Cái phố Giá trên Thái Nguyên cũng bắt đầu sinh ra từ đấy. Chuyện phố Giá nói sau. Chuyện số phận nói trước. Vì là sinh đúng vào ngày 22 tháng 12 là ngày kỷ niệm rất to của quân Vệ quốc ta thời đó, ông nội tôi có treo lá cờ trước lều tản cư, nên mẹ tôi mãi sau này còn nhớ. Còn giờ “gà lên chuồng” thì ông nội tôi nhớ hộ. Bởi đúng vào lúc sẩm tối ấy, ông nội tôi rình bọn gà vừa lên chuồng đến con cuối cùng, bèn thò tay bắt một con mái, lôi ra khỏi chuồng, chính lúc nó kêu quang quác inh ỏi cả lên thì có tiếng trẻ con khóc váng lên trong nhà, ấy là lúc chú nhóc con là tôi nằm gọn lỏn trên tay bà mụ xóm. Sau này ông nội kể: Ta nghe tiếng khóc ấy như trời đất sáng lên. Tay ta lỏng ra thế nào không biết, hai cánh con gà bỗng giãy lên phành phạch, rồi nó tuột khỏi tay ta biến vào gầm chuồng. Theo âm lịch thì ngày tôi lọt lòng mẹ đúng vào ngày 14 tháng 11 năm Canh Dần, gọi theo tên Can Chi sang trọng là năm Canh Dần, tháng Mậu Tý, ngày Tân Mão, giờ Đinh Dậu. Theo Can Chi ấy thì giời đất cho tôi một quẻ Dịch có tên là Địa Lôi Phục. Cũng xin nói ngay là còn lâu lắm, mãi đến tận năm 1990 tôi mới biết mệnh tôi là Địa Lôi Phục. Là vì trong những năm tôi lớn lên, tôi chỉ được học luân lý, toán pháp, sử ký, địa lý, đâu có biết Kinh Dịch là gì. Kinh Dịch thời ấy đồng nghĩa với mê tín dị đoan. Nói làm gì cái thời ấy, “một yêu anh có may-ô/ Hai yêu anh có cá khô ăn dần”. Mãi đến khi Đảng mở cánh cửa cho khoa học phương Đông và giời đất run rủi lọt vào tay tôi bộ Kinh Dịch của Ngô Tất Tố, tôi mới biết thế nào là Kinh Dịch. Người đầu tiên cho tôi biết cái mệnh chi phối đời tôi là một ông già người miền núi Quốc Oai lúc bấy giờ còn thuộc tỉnh Hà Đông, bây giờ là Hà Nội. Tôi ngồi dưới gốc một cây đại thụ tên là thiết mộc lan. Tôi chưa bao giờ ngồi dưới gốc cây cảnh to đến thế. Bóng nó xùm xòa cả một góc sân gạch. Để tiếp khách Hà Nội, từ sáng sớm, chiếc máy bơm phun đã được huy động rửa sạch bụi trên các tàu lá, giờ đây những tàu lá xanh bóng lên. Một chiếc bàn tròn được bày dưới bóng cây, lại đúng vào cái thời những bông thiết mộc lan đang ra hoa. Cái giống này cầu kỳ lắm, hoa không có mùa, nhưng khi nó nở, hình bông chuối, thì đó là phúc lộc đến nhà. Dưới làn hương kỳ ảo, tôi nghe một ông già ung dung ngồi phán xét cuộc đời. Ông gọi tôi là chú nó. Ông giảng cho tôi như giảng cho một đứa trẻ không cần biết đứa trẻ có hiểu hay không. Thế này nhé. Chú nó được giời đất cho quẻ Địa Lôi Phục. Địa là đất, lôi là sấm. Tượng quẻ là sấm bắt đầu nảy sinh trong lòng đất. Vì sấm mới sinh nên sấm còn non nớt. Non nớt nhưng sấm sẽ mạnh dần lên. Sự xuất hiện của sấm sẽ làm bầu trời mặt đất tràn ngập khí dương, làm nảy nở muôn vật, không gì tốt và may mắn bằng. Phục nghĩa là trở lại, phục hồi, còn có nghĩa là làm trái lại, làm mới thêm. Khí dương lâu nay vắng bóng trên mặt đất, nay bắt đầu hồi sinh. Như mùa xuân trở lại và bắt đầu. Chu Văn Vương trong ngục Dữu Lý, viết lời quẻ Phục: Trở lại: hanh thông. Ông nhìn mắt tôi mà thương hại: Chú mình có hiểu không? Ta nói toàn chữ nôm na cả thôi mà. À thế là em hiểu rồi, như em đang trở lại với Kinh Dịch đây thôi. Kinh Dịch tưởng đã mất đi rồi, tưởng nó đã hoàn toàn nhường chỗ cho những triết lý mới, thế nhưng không, nó còn nguyên vẹn trong thế giới năng lượng, thế giới tinh thần, thế giới tâm hồn của người Việt ta, và em đang trở lại với nó. Em đang trở lại với vùng núi Quốc Oai đây, dưới bóng cây thiết mộc lan đẹp cực kỳ này, để nghe ông anh kính mến dùng những chữ nôm na giải thích cho em những chữ cổ nói lên ý nghĩa sâu xa của vũ trụ đang ẩn giấu trong em. Đến lượt tôi được nhìn ngắm đôi mắt mờ ẩn sau cặp kính dày của ông, hơi lạ lẫm, hơi ngơ ngác trước những mớ từ ngữ hiện đại, nào là thế giới năng lượng, nào là thế giới tâm hồn…

XUÂN CANG