Dù xa quê nhưng những người Lào gốc Việt vẫn đau đáu nhớ về cội nguồn

Thiếu tá Nguyễn Văn Hùng, trạm trưởng trạm y tế Thoong Pẹ chở tôi đi một vòng quanh hai bản Na Pê và Na Hạt thuộc huyện Căm Cớt, tỉnh Bô-ly-khăm-say. Không quá khó khăn để tìm được những gia đình có nguồn gốc Việt Nam sinh sống đan xen với những người bản địa.

Anh Phu Phong, một người Lào gốc Việt rất rành tiếng Việt, từng là bộ đội xăng dầu của Lào được đào tạo ngành xăng dầu tại Đức Giang, Hà Nội, kể cho chúng tôi nghe câu chuyện mà ông nội anh truyền lại.

Những năm đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp mở khu mỏ khai thác quặng trên địa bàn bản Kim Cương, xã Kim Sơn, huyện Hương Khê ngày nay. Chúng chiêu mộ phu phen là những người nghèo khổ, nợ tô, thuế...làm công nhân khai mỏ. Cuộc sống chốn rừng thiêng nước độc khiến dân phu chết quá nửa, người khác khiếp hãi nhưng không dám trở lại quê nhà, đành vượt rừng băng suối trốn sang Lào. Thời điểm ấy, cánh đồng Na Hạt có quân Pháp đồn trú nên những người bỏ trốn phải sống lẫn vào các tộc người khác vì sợ bị bắt lại. Ông nội của Phu Phông là một trong số ấy.

Để tồn tại, những người Việt trốn chạy khỏi ách thực dân đã phải chịu biết bao khổ ải. Sau khi Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, các nước tham gia Hiệp định tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Nhưng trên thực tế, người Pháp vẫn duy trì quân đồn trú tại Lào cho nên những người Việt tha hương một lần nữa phải trốn tránh vì sợ sự truy bức, trả thù.

Những người bị bắt thường bị Pháp hành hình trên giá treo cổ để thị uy. Số khác may mắn hơn được các gia đình bản địa bao bọc, nhận làm con nuôi. Để tránh nạn, người Việt phải rứt ruột bỏ những họ Nguyễn, Trần, Lê của mình… nhưng cũng ngầm quy ước, những ai không mang họ là người Việt Nam. Chính vì lẽ đó, hầu hết những người Lào gốc Việt sống rải rác ở khu vực biên giới khắp tuyến Việt - Lào đều không có họ. Đơn giản, họ chỉ gọi nhau bằng tên như Thào (anh) Giàng, Thào Phử, Thào Hùng; Nàng (chị) Mau, Nàng Lùng, Nàng Hoa…

Đại úy Phạm Hùng Sơn, phiên dịch viên tiếng Lào của Đồn biên phòng cửa khẩu Cầu Treo cho biết, dẫu cuộc sống của những người Lào gốc Việt này có nhiều điểm giống với người Lào bản địa nhưng họ vẫn duy trì những phong tục gốc. Bàn thờ gia tiên được các gia đình đặt ở trên cao, nơi trang trọng nhất. Người khuất núi vẫn được mang đi địa táng và có lễ cải táng, lễ cũng giỗ hằng năm chứ không hỏa táng như người bản xứ. Đặc biệt các gia đình vẫn dạy cho con cháu nói tiếng Việt và sinh hoạt gia đình theo tôn ti trật tự của người Việt.

Riêng ở huyện Căm Cớt, có thể tìm thấy người Lào gốc Việt sống rải rác ở các bản Na Pê, Na Hạt, Noọng Ó, Lắc Hạ, Lắc Chết, Lắc Xíp Xoỏng, Na Liêng, Thoọng Pẹ. Qua bao nhiêu năm gắn bó với vùng đất mới nhiều người Lào gốc Việt được cộng đồng dân cư nơi đây kính trọng và bầu vào các chức vụ quan trọng của bản. Cá biệt có trường hợp Nàng Khon (bà Khon) được bầu làm trưởng bản Na Hạt – chức vụ tương đương với Chủ tịch xã của nước ta. Bà Khon là một trong số rất ít những phụ nữ được làm trưởng bản ở nước Lào.

Ngoài những ngày Tết của người Lào như tết Pi May (Năm mới) thường được tổ chức vào giữa tháng Tư dương lịch, người Việt còn tổ chức đón Tết nguyên đán theo phong tục. Cũng rộn ràng làm mứt, gói bánh chưng, bánh tét và quan trọng hơn cả là không thể thiếu mâm cỗ cúng tổ tiên lúc giao thừa, tập trung đón Tết cùng nhận anh, nhận em để con cháu luôn khắc sâu nguồn cội.

Ở bản Thoong Pẹ, tôi gặp được Thào Khắt, một ông chủ nhỏ chuyên bán hàng tạp phẩm. Thào Khắt là con trai ông May Mắn. Cái tên May Mắn ấy do ông cụ tự đặt lại sau khi bị thực dân Pháp đưa lên giá treo cổ, nhưng may mắn thoát chết do ông trưởng bản Na Hương ngày ấy nhận là con trai. Thào Khắt có rất nhiều anh em sống trong bản. Cô em gái ở Lạc Xao lấy chồng người Lào cho nên phải theo phong tục gia đình chồng. Vợ của Thào Khắt cũng là người Lào nhưng lấy chồng thì phải theo chồng, giờ chị làm cơm cúng, gói bánh chưng khéo léo không kém người Việt. Với vốn tiếng Việt đủ để giao tiếp, anh cho biết gia đình anh vẫn giữ được mối dây liên lạc với người thân ở quê cũ.

Hôm chúng tôi đến nhà anh cũng là ngày giỗ của mẹ anh, vợ anh, chị Sôm Liên bày biện một mâm cỗ cúng có thịt luộc, xôi trắng và vài loại hoa quả hái trong vườn. Thào Khắt cười xuề xòa: “Có chi cúng nấy thôi, vẫn theo nền nếp của người Việt mình”. Tôi thấy anh thắp hương và lầm rầm khấn theo tiếng Lào bèn hỏi vì sao không khấn bằng tiếng Việt. Anh bảo: “Mình đang ở nước Lào, muốn mẹ về ăn cơm cúng của mình thì phải khấn tiếng Lào, có thế người cai quản con ma của đất mới cho phép về mà. Nhưng mình vẫn dạy con cháu mình tiếng Việt, phải nhớ tổ tiên mình là người Việt chứ”.

Còn lúc này, khi đang ngồi viết những câu chuyện về họ tôi vẫn có một cảm giác nao nao thương nhớ những con người đang sống trên một vùng biên cương xa ngái của nước bạn nhưng vẫn nặng lòng với quê, với truyền thống dân tộc theo một cách mộc mạc, giản đơn mà vô cùng đáng quý.