GD&TĐ - Theo báo cáo của Bộ Công Thương, tình hình nhập khẩu (NK) than thời gian qua đang không ngừng tăng cao gây nên một áp lực rất lớn cho sản xuất trong nước, bởi khi mà hiện chúng ta đang tồn kho tới 12 triệu tấn.

Nghich ly nganh than - Anh 1

Nghịch lý này được cho là hệ quả từ việc chỉ tập trung khai thác những mỏ lộ thiên mà không đầu tư phát triển công nghệ, nên kỹ thuật không thể đáp ứng khi cần khai thác những mỏ sâu, chất lượng than tốt...

Những nghịch lý

Than là một trong 3 trụ cột năng lượng do đó mấy năm nay, Nhà nước đã có chủ trương hạn chế xuất khẩu (XK) than. Vì thế, lượng than XK giảm hẳn và than được liệt vào nhóm mặt hàng có kim ngạch XK giảm nhanh. Cụ thể, 9 tháng đầu năm 2016, XK than chỉ đạt hơn 730.000 tấn, kim ngạch 73,8 triệu USD, giảm 48% về lượng và hơn 51% về giá trị so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, than NK lại tăng mạnh. Tính đến giữa tháng 10/2016, Việt Nam đã NK 11,14 triệu tấn, với kim ngạch gần 700 triệu USD. Nếu chỉ tính đến hết tháng 9, con số NK than đã là 10,5 triệu tấn, tăng 147,6% về lượng và 82,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2015. So với mức dự báo do Bộ Công Thương đưa ra đầu năm nay là 3,1 triệu tấn thì số lượng này đã tăng gấp hơn ba lần. Vì thế, nhiều câu hỏi được đặt ra trước thực tế này khi than trong nước đang dư thừa 12 triệu tấn thì tại sao NK than lại tăng nhiều như vậy (?!)

Lý giải về hiện tượng này, nhiều chuyên gia ngành than cho rằng, giá than thế giới đang rẻ hơn trong nước do chi phí sản xuất thấp hơn, công nghệ cao hơn. Nhiều nước thời gian qua khuyến khích đẩy than ra nước ngoài. Bên cạnh đó thuế NK than hiện bằng 0% nên lượng than NK tăng đột biến.

Hơn thế, than trong nước chịu tác động bất lợi từ cơ chế chính sách về thuế như từ 1/7/2016, thuế tài nguyên môi trường đối với mặt hàng than là 10 - 12%. Chỉ riêng thuế tài nguyên của Việt Nam đã cao hơn 5 - 7% so với các nước trong khu vực, trong khi thuế XK than của nhiều nước là 0%, thuế NK than vào Việt Nam hiện nay là 0%, giá than ở nhiều thị trường lại giảm, đây chính là lý do khiến cho NK than tăng cao trong thời gian qua.

Nhập cũng.... không dễ

Không thể phủ nhận NK than tăng nhanh thời gian qua ít nhiều đã tác động không nhỏ đến ngành than trong nước. Các chuyên gia cho rằng, đây là thời gian khó khăn nhất của ngành trong 10 năm qua, bởi lẽ, ngành than trong năm 2016 đã phải giảm sản lượng 3 triệu tấn – riêng Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (TKV) đang tồn kho trên 10 triệu tấn. Chính do kinh doanh khó khăn, doanh thu và lợi nhuận đều sụt giảm... khiến TKV đang phải tính chuyện cắt giảm thêm 4.000 lao động trong năm nay.

Với những khó khăn này, nhiều tháng qua, ngành than liên tiếp “kêu cứu” tới các bộ, ngành và kiến nghị được tháo gỡ bằng cách giảm thuế tài nguyên đối với mặt hàng than. Tuy nhiên, để tháo gỡ khó khăn trước mắt cho TKV trong bối cảnh hiện nay, Bộ Tài chính đề xuất Bộ Công Thương điều chỉnh kế hoạch XK than giai đoạn 2017 - 2020 từ 2 triệu tấn/năm lên 3 - 4 triệu tấn/năm. Đây là giải pháp khả thi hơn so với phương án giảm thuế XK bởi vừa giảm được lượng than tồn kho mà trong nước ít có nhu cầu sử dụng vừa không thay đổi thu ngân sách.

Trên thực tế, sản xuất than hiện nay của Việt Nam rất khó khăn khiến cho giá thành trong nước cao hơn giá NK. Cụ thể, kỹ thuật khai thác than, đa số mỏ khai thác ở dưới sâu, thậm chí âm 300m so với mực nước biển, chi phí khai thác mỏ lộ thiên với hệ số bóc đất đã tăng gấp 3 lần làm tăng chi phí sản xuất, giá thành sản xuất than trong nước. Trong khi đó, trên cơ sở cân đối cung cầu thì năm 2017 chúng ta sẽ phải NK than cho nhiệt điện cũng như các hộ tiêu thụ với khối lượng không nhỏ.

Các chuyên gia dự báo, than trong nước sẽ không đáp ứng đủ nhu cầu cho nhiệt điện và các hộ tiêu dùng khác, cộng với việc khai thác than hiện đã rất khó khăn nên việc NK than chắc chắn sẽ còn tăng trong thời gian tới. Tuy nhiên, giá than thế giới đang nhích lên, tiệm cận giá trong nước nên các hộ tiêu thụ sẽ quay lại dùng than nội địa. Nhưng vấn đề khó khăn của Việt Nam khi NK than là không cạnh tranh được với các nước đang NK như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ...

Bởi các nước này đã có truyền thống NK hàng chục năm nay, có nhiều kinh nghiệm trên thị trường NK. Hơn thế, hiện các ngành kinh tế của họ có hiệu quả sử dụng than cao hơn nên có sức mua than tốt hơn. Còn Việt Nam, mới gia nhập thị trường gần đây, các ngành kinh tế lại có hiệu quả sử dụng than thấp hơn nhiều nên khả năng cạnh tranh về giá sẽ rất khó khăn...

Các chuyên gia cho rằng, điều kiện NK than của Việt Nam không thuận lợi. Các cảng biển Việt Nam phần lớn là nông, chỉ tiếp nhận được tàu có tải trọng nhỏ (5 - 6 vạn tấn), làm cho chi phí vận tải biển tăng. Cảng nhận than của các dự án điện thì phần lớn chỉ thiết kế tiếp nhận được các tàu 2 - 3 vạn tấn, lại thường xuyên phải nạo vét. Điều này còn làm tăng chi phí chuyển tải, bốc dỡ than. Với những lý do này, bài toán NK than đang là vấn đề gây “đau đầu” các nhà quản lý.