Một trong những thước đo để đánh giá mức độ an toàn nợ công là tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ (bao gồm cả đảo nợ và cho vay lại) trên tổng thu ngân sách Nhà nước khi chỉ số này đang có xu hướng tăng nhanh, vượt mức trần 25%, ảnh hưởng tới an ninh tài chính quốc gia...

Nghia vu tra no cua Chinh phu tang nhanh, “vuot tran” 25% - Anh 1

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội sẽ làm việc trong thời gian 26 ngày

Nợ công có thể “tiệm cận” giới hạn cho phép

Theo báo cáo thẩm tra mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công của Ủy ban Tài chính Ngân sách của Quốc hội chiều ngày 20/10, giai đoạn 2011 - 2015 đã huy động được khối lượng vốn lớn cho đầu tư phát triển với khoảng 2.448 nghìn tỷ, chiếm 44% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Chất lượng công tác quản lý nợ từng bước được nâng lên, tiệm cận dần với thông lệ quốc tế.

Thủ tướng nói “nợ công cao, áp lực trả nợ lớn”

Báo cáo về kinh tế - xã hội trước Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chỉ rõ, tăng trưởng GDP 9 tháng đầu năm đạt thấp so với cùng kỳ (5,93% so với 6,5%). Dự báo tăng trưởng GDP cả năm thấp hơn kế hoạch đề ra (6,7%).

“Tăng trưởng kinh tế không đạt kế hoạch sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác, trong đó tỷ lệ bội chi NSNN, nợ công, nợ Chính phủ so với GDP có thể cao hơn dự kiến”, Thủ tướng nói “nợ công cao, áp lực trả nợ lớn”.

Dưới góc độ cơ quan thẩm tra báo cáo của Chính phủ về kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2016, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cũng, nhiều ý kiến lo ngại tình trạng bội chi ngân sách cao, nợ công tăng nhanh trong giai đoạn trước là một trong các rủi ro lớn cho nền kinh tế, nợ công có khả năng vượt trần là 65% GDP trong năm 2016.

Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đề nghị Chính phủ từ nay đến cuối năm 2016 cần tính toán thời gian, liều lượng điều chỉnh phù hợp đối với giá dịch vụ y tế, giáo dục, theo dõi sát giá xăng dầu thị trường thế giới để kiểm soát mức tăng trưởng tín dụng phù hợp, tránh gây áp lực lên chỉ số CPI.

Tuy nhiên, tình hình huy động, quản lý, sử dụng vốn vay còn nổi lên nhiều hạn chế, trong trung và dài hạn có khả năng sẽ ảnh hưởng tới an ninh tài chính quốc gia.

Nợ công tính đến năm 2015 là 2.608 nghìn tỷ đồng, bằng 62,2% GDP. Tuy vẫn trong giới hạn cho phép song tốc độ tăng bình quân cả giai đoạn (18,4%/năm) là khá cao, gấp hơn 3 lần tốc độ tăng trưởng GDP; tỷ lệ nợ chính phủ/GDP tăng từ 39,3% năm 2011 lên 50,3% năm 2015. Đặc biệt, chỉ tiêu nợ Chính phủ/GDP năm 2015 là 50,3% đã vượt giới hạn trần cho phép (50%).

Chưa kể, mức dư nợ công được tính theo báo cáo của Chính phủ chưa bao gồm các khoản nợ có tính chất nợ công, chính sách, nợ khối lượng xây dựng cơ bản...

“Nếu tính đủ các khoản này thì thực chất dư nợ công sẽ tiệm cận hoặc vượt giới hạn cho phép”, báo cáo của Ủy ban Tài chính Ngân sách nêu rõ.

Ngoài ra, theo Ủy ban Tài chính Ngân sách, các khoản nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) về nguyên tắc thuộc nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của DN song trong trường hợp DN không có khả năng trả nợ rất có thể sẽ chuyển thành nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ, nếu quản lý không chặt chẽ sẽ chuyển thành nợ chính thức của Chính phủ, tạo thêm áp lực cho NSNN.

Vay đảo nợ tăng nhanh

Số liệu tổng hợp cho thấy, vốn vay trong nước ngắn hạn chiếm tỷ lệ cao, lãi suất cao, thời gian trả nợ ngắn nhưng lại được sử dụng cho các công trình, dự án có đầu tư và thu hồi vốn dài. Tỷ lệ nghĩa vụ nợ gồm cả đảo nợ đã vượt giới hạn cho phép.

Ủy ban Tài chính Ngân sách cho rằng, khả năng cân đối nguồn để trả nợ gặp nhiều khó khăn, bố trí chi trả nợ hàng năm chưa tương xứng với nghĩa vụ trả nợ đến hạn, vay đảo nợ tăng nhanh, với khối lượng lớn trong nhiều năm, năm sau cao hơn năm trước.

Năm 2013 vay đảo nợ 47.000 tỷ đồng, năm 2014 là 106.000 tỷ đồng, đến năm 2015 là 125.000 tỷ đồng. Thể hiện cơ cấu, kỳ hạn vay cũng bất hợp lý, hiệu quả sử dụng vốn vay thấp, không thu hồi được nguồn để trả nợ.

Đặc biệt, cần chú ý đến chỉ số rất quan trọng, là một trong những thước đo để đánh giá mức độ an toàn nợ công là tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ (bao gồm cả đảo nợ và cho vay lại) trên tổng thu ngân sách Nhà nước khi chỉ số này đang có xu hướng tăng nhanh (chỉ số này tăng từ mức 21,7% năm 2013 lên mức 28,2% năm 2014 và 29,2% năm 2015), vượt mức trần 25%, ảnh hưởng tới an ninh tài chính quốc gia.

Trong khi đó, hiệu quả sử dụng vốn vay chưa cao. Một số dự án vay lại từ nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ, dự án được Chính phủ bảo lãnh khó khăn trong trả nợ.

Một số dự án sử dụng vốn vay điều chỉnh tổng mức đầu tư (TMĐT) lớn, kéo dài thời gian thi công, chưa đưa vào khai thác, vận hành như Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, Dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông,...

Vì vậy, Ủy ban Tài chính Ngân sách đề nghị Chính phủ đánh giá sâu hơn về hiệu quả sử dụng vốn vay, cung cấp số liệu các dự án được Chính phủ bảo lãnh vay vốn, dự án Chính phủ vay về cho vay lại không hiệu quả, khó khăn trong trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ, phải cơ cấu lại nợ, số tiền phải trả nợ thay; các dự án phải điều chỉnh tăng TMĐT, thi công kéo dài và nguyên nhân của các tồn tại này.

Cần kiểm soát nợ tiềm ẩn phát sinh từ nợ của DNNN

Dự báo, giai đoạn 2016 - 2020, nhu cầu vốn vay rất lớn song sẽ rất khó khăn trong việc huy động. Ngoài việc duy trì ngưỡng an toàn nợ công/GDP, nợ nước ngoài của quốc gia/GDP như giai đoạn vừa qua, Chính phủ đề xuất nâng chỉ tiêu giới hạn nợ Chính phủ/GDP từ mức 50% hiện nay lên mức trần 55%.

Đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính Ngân sách cho rằng, trong bối cảnh NSNN còn nhiều khó khăn, an ninh tài chính quốc gia chưa thực sự vững chắc thì về cơ bản, cần duy trì ngưỡng an toàn nợ công như giai đoạn 2011 - 2015 (nợ công so với GDP là 65%, nợ Chính phủ so với GDP là 50%, nợ nước ngoài của quốc gia là 50%) và thắt chặt việc quản lý, sử dụng vốn vay.

Đối với chỉ tiêu nợ Chính phủ/GDP, có thể cân nhắc quy định ngưỡng tối đa là 53% song đến năm 2020 đề nghị đưa về mức giới hạn 50%.

Ủy ban Tài chính Ngân sách cũng lưu ý, giai đoạn tới là giai đoạn hội nhập sâu vào các khu vực tự do thương mại FTA, thực hiện TPP, dự báo sẽ tác động đến thu NSNN. Các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, thu NSNN nếu không được tính toán kỹ, thiếu chính xác sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ số an toàn về nợ công.

Chính phủ cần kiểm soát các khoản nợ tiềm ẩn phát sinh từ nợ của khu vực DNNN có nguy cơ chuyển thành nợ công. “Các khoản nợ dự phòng khi chuyển thành nợ chính thức của Chính phủ cần báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định”, Ủy ban Tài chính Ngân sách đề nghị.

Tăng lương khoảng 7 - 8%/năm phải đi đôi với tinh giảm biên chế

Theo Báo cáo kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm 2016 - 2020 được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng - thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày trước Quốc hội chiều 20/10, mức chi điều chỉnh tiền lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công giai đoạn này sẽ tăng khoảng 7-8%/ năm.

Cơ quan thẩm tra là Ủy ban Tài chính Ngân sách nhất trí với mức tăng lương này nhưng lưu ý phải đi đối với việc việc tinh giản biên chế, sắp xếp lại bộ máy và đẩy mạnh cải cách đơn vị sự nghiệp công.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị giai đoạn 2016-2020, cần tăng mức chi điều chỉnh tiền lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công lên 10-12%/năm, góp phần bảo đảm đời sống cho người hưởng lương. Cùng đó, Chính phủ cần lưu ý tăng cường công tác quản lý và chú trọng đến sự an toàn và hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm y tế.

Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách Nguyễn Đức Hải cũng cho biết, đa số ý kiến tán thành với đề nghị của Chính phủ về việc dự kiến bố trí tổng chi đầu tư phát triển khoảng 2 triệu tỷ đồng (phân bổ tối đa 1,8 triệu tỷ đồng, còn lại dự phòng 10%), chiếm 25-26% tổng chi NSNN và đây chỉ là định hướng vì còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng thu NSNN hàng năm, mức cụ thể do Chính phủ trình Quốc hội quyết định theo từng năm.

Thảo Nguyên