Chín tháng qua, cả nước đã nhập khẩu hơn 10 triệu tấn than, “vượt kế hoạch” bảy triệu tấn so mốc dự báo 3,1 triệu tấn do Bộ Công thương đưa ra từ đầu năm. Như vậy, từ một nước xuất khẩu than, chúng ta đang nhập khẩu than với số lượng lớn. Nguyên nhân của tình trạng này là gì, nhằm đáp ứng tăng trưởng cao của nền kinh tế hay do ngành than trong nước không đủ sức cạnh tranh với than nhập khẩu?

Nang suc canh tranh cho than trong nuoc - Anh 1

Vì sao nhập khẩu nhiều ?

Giải thích về lượng than nhập khẩu quá lớn, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công thương) Nguyễn Khắc Thọ cho biết: Than là mặt hàng kinh doanh có điều kiện. Hoạt động kinh doanh than của ngành than trong nước hiện nay bao gồm cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Với xuất khẩu, chúng ta đang điều hành theo quan điểm phát triển ngành than, chỉ xuất khẩu những chủng loại than chưa sử dụng hết hoặc chưa sử dụng, được quản lý thông qua kế hoạch. Hằng năm, Bộ Công thương trên nguyên tắc tính toán cung cầu và đáp ứng tối đa sử dụng trong nước, lượng than dư thừa còn lại sẽ báo cáo Chính phủ cho xuất khẩu.

Riêng lượng than nhập khẩu đang tăng nhanh, theo ông Nguyễn Khắc Thọ, nguồn than khai thác trong nước có thể không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong nước. Tuy nhiên, nguyên nhân chính vẫn do giá than nhập khẩu rẻ hơn nhiều than khai thác trong nước. Thực tế, hầu hết các mỏ của chúng ta hiện nay ngày càng khai thác xuống sâu. Nhiều mỏ như Cọc 6, Khe Chàm 3, Khe Chàm II-IV,… đều đang khai thác ở dưới mức 300 m so với mặt nước biển. Điều này đã khiến chi phí sản xuất của ngành than ngày càng tăng cao. Thí dụ, theo tính toán, hệ số bóc đất đá (tỷ lệ đất đá so với than khai thác được) đã tăng gấp ba lần. Nếu năm 1995, cứ bóc hơn ba tấn đất đá, sẽ khai thác được một tấn than, còn hiện nay, tỷ lệ này lên tới khoảng 11:1. Ngoài những nguyên nhân về kỹ thuật nêu trên, cơ chế chính sách cũng là yếu tố tác động mạnh khiến giá than trong nước tăng cao.

Từ tháng 7-2016, thuế tài nguyên đối với than hầm lò đã tăng từ 7% lên 10%, than lộ thiên tăng từ 9% lên 11% và nếu tính cả tiền cấp quyền khai thác (về mặt bản chất cũng là một loại thuế tài nguyên) thì mức thuế áp cho than hầm lò đã lên mức 12% và lộ thiên là 14%. Đây là mức thuế cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực, thí dụ In-đô-nê-xi-a đang áp thuế tài nguyên cho khai thác than ở mức 3 đến 7%, Trung Quốc là 0 đến 4%,… Ngoài ra, do khủng hoảng của kinh tế toàn cầu và nhất là ảnh hưởng từ việc giảm giá dầu, mặt bằng chung của giá than trên thế giới đã giảm sát đáy. Trong hoàn cảnh thị trường than gặp khó khăn, nhiều nước trên thế giới đã áp dụng nhiều chính sách hỗ trợ và khuyến khích việc xuất khẩu than. Như vậy, khi thuế xuất khẩu ở các nước khác thấp mà thuế nhập khẩu lại bằng 0, càng làm giảm giá thành than nhập khẩu. Những yếu tố này đã khiến lượng than nhập khẩu tăng “đột biến” thời gian qua.

Nhu cầu nhập khẩu than trong dự báo hồi đầu năm 3,1 triệu tấn của Bộ Công thương đã chưa tính đến các nhà máy nhiệt điện BOT và các nhà máy đã nhập khẩu than trước đây. Số liệu này cũng chưa tính đến nhu cầu sử dụng của các hộ sản xuất khác như xi-măng, hóa chất, phân bón, luyện kim,… Ngoài ra, rất nhiều nhà máy trong nước cũng được thiết kế chỉ để sử dụng than nhập khẩu. Theo đó, khối lượng than phải nhập có thể lên hơn 8 triệu tấn. Vì thế, theo quan điểm của ông Nguyễn Khắc Thọ, con số than nhập khẩu lên đến 10,1 triệu tấn không hoàn toàn là “vỡ trận” mà vẫn dựa theo nhu cầu phục vụ sản xuất trong nước.

Không tác động lâu dài

Rõ ràng, việc nhập khẩu than đã tác động rất lớn đến hoạt động khai thác than trong nước. Theo tính toán, TKV đã phải giảm sản lượng khoảng ba triệu tấn than, làm giảm khả năng đầu tư của Tập đoàn trong lúc cần lượng vốn lớn để đổi mới công nghệ khai thác sâu. Việc giảm sản lượng cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm của người lao động. Nhưng theo đánh giá của một số chuyên gia, tác động của than nhập khẩu sẽ không kéo dài vì trên thị trường hiện nay, giá than nhập khẩu đã tăng cao hơn so sáu tháng đầu năm, dần tiệm cận với giá than khai thác trong nước và sẽ còn tiếp tục tăng trong thời gian tới.

Phó Tổng Giám đốc TKV Nguyễn Văn Biên cho biết: Từ đầu năm đến nay, ngoài xuất khẩu, TKV cũng nhập khẩu khoảng 1 triệu tấn than. Số lượng than này được sử dụng nhằm pha trộn với lượng than tồn kho có chất bốc thấp, lưu huỳnh cao để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Ngoài ra, trong điều kiện giá than trên thị trường thế giới thấp hơn giá sản xuất trong nước, việc nhập khẩu cũng giúp TKV có chiết khấu giảm giá tốt hơn cho khách hàng. Việc nhập khẩu cũng nằm trong nhiệm vụ lâu dài mà TKV được Chính phủ giao, nhập than với số lượng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Theo đó, khi điều kiện thị trường đang tốt, TKV đã thương thảo và ký các hợp đồng nhập khẩu than dài hạn với số lượng tăng lên.

Tuy nhiên, lượng than nhập khẩu tăng “đột biến” đã khiến than trong nước khó tiêu thụ. Từ đầu năm đến nay, tồn kho toàn ngành than đã lên đến 12 triệu tấn, riêng TKV tồn kho 11 triệu tấn, nhiều hơn lượng tồn kho định mức theo quy định khoảng 3 đến 4 triệu tấn. Theo ông Nguyễn Văn Biên, những năm gần đây, ngành than thế giới có mức tăng trưởng rất cao, sản lượng toàn cầu đạt mức hơn bảy tỷ tấn, gấp hai lần mười năm trước đây. Khi nguồn cung tăng cao, cộng với ảnh hưởng từ suy giảm kinh tế đã khiến nhiều nước phải giảm thuế than để tăng sức cạnh tranh; đồng thời điều kiện khai thác của nhiều nước trong khu vực cũng thuận lợi hơn so với Việt Nam khiến giá thành rẻ hơn, tạo sức ép rất lớn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh than trong nước. Trong đó, có nguyên nhân là trình độ khai thác than của Việt Nam còn thua kém nhiều nước, nhất là trong khai thác hầm lò đã khiến giá cả than trong nước mất đi sức cạnh tranh.

Để giải quyết tình trạng này, theo các chuyên gia, ngành than phải tập trung thay đổi công nghệ, đổi mới công tác quản trị, tăng năng suất và giảm giá thành để than trong nước có đủ sức cạnh tranh với than nhập khẩu. Với TKV, trong quá trình tái cơ cấu nên tập trung vào việc giảm chi phí sản xuất, nhất là ở những khâu quản lý chung và quản lý trung gian. Nếu không sớm có những điều chỉnh thích hợp, mà chỉ giảm chi phí ở khâu sản xuất có thể sẽ ảnh hưởng đến năng lực, lượng khai thác cũng như quản trị an toàn. Ông Nguyễn Văn Biên cho biết: TKV đã liên tục áp dụng nhiều giải pháp căn cơ để giảm chi phí sản xuất. Nếu không tính đến các yếu tố khách quan như chi phí đầu vào, điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn,… giá thành sản xuất đã giảm bình quân khoảng 1,5%/năm. Thời gian tới, TKV sẽ tập trung đổi mới công nghệ, tăng cường cơ giới hóa, hiện đại hóa công tác quản trị, nhằm giảm chi phí sản xuất và tăng sức cạnh tranh cho than trong nước.

Bộ Tài chính đã có văn bản bác đề xuất giảm thuế của TKV và đề nghị ngành than tăng xuất khẩu. Theo Bộ Tài chính, mức thuế suất tài nguyên quy định vừa mới ban hành nên cần có thời gian để tổng kết đánh giá. Mặt khác, việc đề nghị thay đổi mức thuế suất từng sắc thuế căn cứ trên kiến nghị của một đơn vị cần được cân nhắc kỹ, nhất là trong bối cảnh ngân sách Nhà nước đang khó khăn. Bộ Tài chính kiến nghị Bộ Công thương xem xét, tăng kế hoạch xuất khẩu giai đoạn 2017-2020 lên 3 đến 4 triệu tấn/năm bởi đây là giải pháp có tính khả thi hơn vì giảm được lượng than tồn kho trong nước ít có nhu cầu sử dụng.