ASEAN có quy mô dân số trên 600 triệu dân với tổng GDP hàng năm khoảng 2.000 tỷ USD. Trong các đối tác thương mại quan trọng nhất của Việt Nam, ASEAN chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với kim ngạch thương mại hai chiều đạt trên 42,1 tỷ USD. Cộng đồng này được đánh giá sẽ tạo ra một khu vực kinh tế có tính cạnh tranh cao, hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu.

Nang luc canh tranh: Chia khoa xuat khau sang thi truong cac nuoc ASEAN - Anh 1

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, tận dụng cơ hội xuất khẩu vào thị trường ASEAN, các doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm và tỷ lệ nội địa hóa, đổi mới công nghệ, tập trung xây dựng thương hiệu, tăng cường năng lực nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại….

Kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam với ASEAN đã tăng trưởng từ 3,3 tỷ USD (năm 1995) lên 42,1 tỷ USD – tăng gần 13 lần. Đặc biệt, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN có tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 17,1%, đưa kim ngạch xuất khẩu từ gần 1 tỷ USD năm 1995 lên 18,3 tỷ USD năm 2015 (tăng hơn 18 lần).

Tại hội thảo: “Nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sang thị trường các nước ASEAN”, ông Tạ Hoàng Linh, Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) nhấn mạnh: Bên cạnh việc thúc đẩy giao dịch, trao đổi thương mại trong AEC, lợi ích mà các thành viên có được là giúp tăng trưởng kinh tế nhanh, tạo ra nhiều việc làm, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài mạnh mẽ, phân bổ nguồn lực tốt, tăng cường năng lực sản xuất và tính cạnh tranh. Đặc biệt, AEC chú trọng đến mục tiêu thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nước ASEAN, cũng là vấn đề Việt Nam hết sức quan tâm.

Nhìn nhận về vấn đề này, ông Đỗ Quốc Hưng, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường Châu Á – Thái Bình Dương đánh giá: Khi xuất khẩu vào khu vực ASEAN, các doanh nghiệp sẽ được hưởng những yếu tố tích cực qua việc tăng khối lượng trao đổi thương mại, thay đổi cơ cấu xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng xuất khẩu và tăng kim ngạch xuất khẩu, mở rộng thị phần. Bởi khi đó hàng rào thuế quan bị loại bỏ, các hàng rào phi thuế bị cắt giảm tạo điều kiện cho hàng hóa dịch vụ của Việt Nam được lưu chuyển dễ dàng hơn trong khu vực ASEAN.

Dây không chỉ là cơ hội để tiếp cận và mở rộng thị trường cho hàng hóa xuất khẩu Việt Nam sang thị trường khu vực ASEAN mà còn mở rộng sang các khu vực thị trường đối tác của ASEAN vì đây là một khu vực giao thoa giữa rất nhiều hiệp định thương mại tự do với các đối tác ngoại khối như Ấn Độ, Trung Quốc, Úc và New Zealand.

Tuy nhiên, khi hội nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN cũng đồng nghĩa với việc mở cửa cho hàng hóa của khu vực này tràn vào nội địa.Điều này sẽ khiến hàng hóa của Việt Nam ngày càng phải cạnh tranh gay gắt với hàng hóa của khu vực ASEAN và hàng hóa xuất khẩu sang khu vực này cũng gặp nhiều áp lực. Bên cạnh đó, khi các nước ASEAN bãi bỏ hàng rào thuế quan thì ngay lập tức dựng lên một hệ thống các tiêu chuẩn về kĩ thuật để bảo vệ thị trường nội địa và hạn chế xuất khẩu của các nước khác.

Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh và tận dụng cơ hội xuất khẩu vào thị trường ASEAN, ông Hưng cho rằng, muốn xuất khẩu thì trước hết sản phẩm phải có chỗ đứng vững chắc tại thị trường nội địa bằng cách chủ động vùng nguyên liệu, từ đó nâng cao tỉ lệ nội địa hóa; chú trọng việc xây dựng thương hiệu sản phẩm, uy tín doanh nghiệp; xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm tại thị trường xuất khẩu nhằm đảm bảo tiếp cận thị trường ổn định; đầu tư áp dụng công nghệ mới; tăng cường nghiên cứu thị trường, xúc tiến thương mại….

T.Tân