Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ xác định thời hạn cần tuân thủ các quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012.

Muon cham dut HDLD xac dinh thoi han phai lam the nao? - Anh 1

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xác định thời hạn cần tuân thủ các quy định tại Điều 37 Bộ luật lao động năm 2012 - Ảnh: T.L

Bạn đọc có email: dvthaoyk35@xxxx hỏi: Tôi đã làm việc đươc 1 năm tại Bệnh viện X với HĐLĐ thời hạn 1 năm. Tháng trước tôi đã ký lại HĐLĐ mới cũng có thời hạn 1 năm. Giờ tôi thấy công việc không phù hợp (do tôi thích làm ở Bệnh viện trường với vai trò giảng dạy), và tôi đã xin được việc ở Bệnh viện trường Đại học. Vậy, tôi đơn phương chấm dứt HĐLĐ này có đúng pháp luật không? Trước hết tôi cần làm thủ tục như thế nào, và thời gian bao lâu tôi đươc giải quyết nghỉ việc. Nếu về phía Bệnh viện X không giải quyết nghỉ việc thì sao?

Luật sư Lại Xuân Cường - Văn phòng Luật sư Quốc Thái trả lời:

Do HĐLĐ của bạn là loại HĐLĐ xác định thời hạn, nên để đơn phương chấm dứt HĐLĐ này đúng luật, bạn cần tuân thủ các điều kiện quy định tại Điều 37 BLLĐ 2012.

a. Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong HĐLĐ;

b. Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong HĐLĐ;

c. Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d. Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện HĐLĐ;

đ Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e. Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g. NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo
HĐLĐ xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo
HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Khi bạn thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bạn có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với Bệnh viện X, nhưng phải báo trước cho NSDLĐ một khoảng thời gian như sau:

a. Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b. Ít nhất 30 ngày nếu là HĐLĐ xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ, khoản 1 Điều này;

c. Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, thời hạn báo trước cho NSDLĐ được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này (thời gian theo chỉ định của cơ quan khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền).

Ngoài ra, khoản 3, điều 36 BLLĐ 2012 quy định: HĐLĐ hết hạn khi hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ. Do đó, nếu bạn thỏa thuận được với NSDLĐ để chấm dứt HĐLĐ thì cũng thuộc trường hợp chấm dứt HĐLĐ đúng luật.

Ngoài những trường hợp đã nêu trên, nếu bạn đơn phương chấm dứt HĐLĐ thì đều thuộc trường hợp chấm dứt HĐLĐ trái luật. Hậu quả, bạn sẽ phải bồi thường cho NSDLĐ một nửa tháng lương theo HĐLĐ và khoản tiền tương đương với việc vi phạm thời gian báo trước; bồi thường chi phí đào tạo (nếu có) không được trợ cấp thôi việc (nếu có); không được hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Điều 47 BLLĐ 2012 quy định về trách nhiệm của NSDLĐ khi chấm dứt HĐLĐ: Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. NSDLĐ có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH và những giấy tờ khác mà NSDLĐ đã giữ lại của NLĐ.

Hãy liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 19008088 để nhận được câu trả lời nhanh chóng, kịp thời hoặc gửi email cho chúng tôi: hoặc đến 51 Hàng Bồ, Hả Nội và 39 Trương Định, P6, Q3, TPHCM để được Luật sư tư vấn trực tiếp.

Clip Luật sư nói về hành vi sử dụng súng hơi tự chế - Nguồn: Tuổi trẻ:

Quang Hùng (ghi)