Được nhà nước cấp cho suất tái định cư, tuy nhiên nhiều hộ gia đình không ở mà bán suất này cho những người khác có nhu cầu. Tình trạng này vẫn diễn ra thường xuyên bất chấp những rủi ro có thể gặp phải.

Nên hay không mua suất tái đinh cư?

Chị L.G (ngụ Hóc Môn, TP.HCM) đang tìm mua nhà để ở, với số tiền ít ỏi chị phải nhờ cậy, dò hỏi khắp nơi. Sau những ngày lên mạng tìm kiếm, chị được một môi giới gọi điện và chào bán suất tái định cư. Môi giới này cho biết chỉ với 600 triệu đồng là chị có nhà ở ngay và hứa sẽ làm thủ tục giấy tờ nhanh gọn lẹ.

Theo tìm hiểu của phóng viên, tình trạng mua bán suất tái định cư đã tồn tại nhiều năm nay, đây là một hình thức dù chưa có quy định cụ thể trong luật nhưng thông thường những giao dịch này theo kiểu “thuận mua vừa bán” và thường không để ý nhiều đến tính pháp lý.

Mua suat tai dinh cu: Rat kho de han che rui ro - Anh 1

Nhà tái định cư đang có quá nhiều bất cập (Ảnh: N.Vũ)

Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, cho biết theo quy định hiện hành, người nhận nhà tái định cư được cấp chủ quyền nhà, nhưng sẽ không được chuyển nhượng trong một thời gian khá dài (từ 5-10 năm).

Tuy nhiên, Luật Nhà ở 2014 quy định người sở hữu căn hộ tái định cư có quyền định đoạt đối với căn hộ của mình. Suất nhà tái định cư cũng là “quyền tài sản” của người dân, do vậy, họ phải được quyền định đoạt.

Một số chuyên gia bất động sản cho rằng, chuyển nhượng suất tái định cư là nhu cầu thực và khá phổ biến. Những giao dịch này được coi là cần thiết và dựa trên nguyên tắc tôn trọng quyền sở hữu. Đã cấp suất tái định cư cho người dân thì cũng cho họ quyền được chuyển nhượng, mua bán.

Tuy nhiên, trên thực tế trong quá khứ đã có nhiều vụ việc mua bán suất tái định cư sau khi “cơm không lành, canh chẳng ngọt” đã kéo nhau ra tòa. Tòa đưa ra quyết định là vụ án dân sự, việc mua bán bị xem là vô hiệu. Tòa để các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Quá nhiều rủi ro

Một lãnh đạo tại ban bồi thường giải phóng mặt bằng tại TP.HCM cho rằng, trường hợp mua bán suất tái định cư diễn ra khá nhiều và quan điểm của các cơ quan chức năng là không công nhận việc mua bán đó. Việc chi trả tiền hỗ trợ hoặc giao nhà tái định cư chỉ giải quyết cho người đứng tên hồ sơ gốc chứ không giao cho người được ủy quyền.

Thực tế, tình trạng các đối tượng “cò” mua gom suất tái định cư để đầu cơ. Khách hàng sẽ chịu thiệt khi mua lại 1 suất tái định cư qua “cò”, bởi giá sẽ bị đội lên cao hơn rất nhiều. Trong trường hợp Nhà nước tăng mức hỗ trợ cho các hộ dân giải tỏa thì họ trở mặt, đòi rút lại tờ ủy quyền lúc này người mua sẽ cực kỳ bất lợi.

Nói về trường hợp mua lại suất căn hộ tái định cư, Luật sư Nguyễn Đăng Tư, Văn phòng Luật sư TriLaw thuộc Đoàn luật sư TP.HCM, đánh giá hiện nay hầu hết việc mua bán suất tái định cư được thực hiện dưới hình thức ủy quyền toàn phần. Theo đó, người có suất tái định cư sẽ ủy quyền cho người mua được toàn quyền thực hiện các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, đóng các khoản thuế, phí liên quan và sau đó sẽ được quyền mua bán, cầm cố, thế chấp. Việc ủy quyền này là không trái với quy định của pháp luật, do đó các phòng công chứng vẫn chứng nhận giao dịch cho các bên.

Tuy nhiên, khi thực hiện việc mua bán suất tái định cư nêu trên, người mua sẽ gặp rất nhiều rủi ro như một số căn hộ chung cư tái định cư theo quy định không được bán lại hoặc chuyển nhượng. Khi đó giao dịch ủy quyền (mua bán) nếu có sẽ không hoàn tất và bên mua sẽ không nhận được nhà vì không thể đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở. Và một khi xảy ra tranh chấp thì người mua phải đối mặt với nguy cơ như bên bán đòi tăng giá bán hay tài sản hình thành trong tương lai không được như thỏa thuận ban đầu do sự điều chỉnh từ cơ quan có thẩm quyền hoặc các lý do khác.

Luật sư Tư đưa ra khuyến cáo trong trường hợp vẫn muốn mua suất tái định cư, khi thực hiện việc ủy quyền (mua bán), hai bên cần dự liệu tất cả tình huống pháp lý có thể xảy ra và thỏa thuận cách thức xử lý trong văn bản ủy quyền để làm cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp và hạn chế tranh chấp, tránh những rủi ro không đáng có sau giao dịch.

Nguyên Vũ