Một số thuốc có tác dụng toàn thân có thể gây ảnh hưởng đến tất cả các cấu trúc và chức năng mắt như gây rối loạn thị giác tạm thời, gây mất thị giác vĩnh viễn…

Một số thuốc có tác dụng toàn thân có thể gây ảnh hưởng đến tất cả các cấu trúc và chức năng mắt như gây rối loạn thị giác tạm thời, gây mất thị giác vĩnh viễn… Do vậy, khi bệnh nhân buộc phải dùng một trong các thuốc này, bác sĩ hoặc dược sĩ cần phải kiểm soát rất chặt chẽ. Dưới đây là một số nhóm các thuốc có thể gây ra các phản ứng có hại thường gặp nghiêm trọng trên mắt.

Thuốc chống loạn nhịp amiodaron

Amiodaron được dùng trong điều trị dài ngày với nhiều thể rối loạn nhịp tim khác nhau. Amiodaron gây độc trên mắt ở nhiều mức độ, phụ thuộc vào liều và thời gian, xảy ra ở 69-100% bệnh nhân dùng thuốc. Bệnh giác mạc do amiodaron xảy ra theo 3 giai đoạn, xuất hiện sau ít nhất 1 tháng điều trị bằng thuốc. Trong giai đoạn đầu, có sự xuất hiện dải băng ngang trên giác mạc với bệnh nhân dùng liều 200-400mg/ngày. Liều cao hơn có thể gây tác dụng ở giai đoạn 2 và 3, được đặc trưng bởi những vết như mèo cào và xoắn vòng trên giác mạc. Các cặn lắng thường xảy ra ở ngoại vi và không ảnh hưởng nhiều đến thị giác; tuy nhiên có thể tạo ra quầng màu quanh vùng sáng. Sau khi ngừng amiodaron, các mảng cặn lắng này sẽ biến mất sau khoảng 3-20 tháng.

Bệnh lý về thần kinh thị giác ít xảy ra hơn (dưới 2%) khi dùng amiodaron, nhưng có thể nghiêm trọng dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn. Bệnh thần kinh thị giác liên quan đến amiodaron khởi phát từ từ với diễn biến chậm. Trong khi dùng thuốc, nếu nghi ngờ có bệnh lý thần kinh thị giác thì cần ngừng dùng amiodaron.

Amiodaron cũng gây ra kích ứng mi mắt, nang mi mắt và khô mắt. Do tần suất xuất hiện độc tính trên mắt cao, bệnh nhân phải được kiểm tra mắt trước khi bắt đầu dùng amiodaron, kiểm tra 6 tháng/lần trong năm đầu tiên và 12 tháng/lần sau đó.

Mot so thuoc de gay hai cho mat - Anh 1

Trong quá trình dùng thuốc, nếu thấy có hiện tượng bất thường cần phải đi khám mắt ngay.

Thuốc chống động kinh

Topiramat là thuốc được dùng phối hợp hoặc đơn trị liệu các cơn động kinh và dùng trong dự phòng cơn đau nửa đầu. Topiramat gây tác dụng bất lợi trên mắt kiểu tăng tiết dịch như tăng nhãn áp góc đóng cấp và tăng áp lực nội nhãn.

Tăng nhãn áp góc đóng cấp thường xuất hiện trong 2 tuần đầu tiên sử dụng thuốc. Thông thường, bệnh có biểu hiện khởi phát đặc trưng là nhìn mờ hai bên. Nếu bệnh nhân dùng topiramat để phòng đau nửa đầu, các dấu hiệu độc tính này có thể bị nhầm với triệu chứng đau nửa đầu. Do đó, khi kê thuốc hoặc cấp phát thuốc cho người bệnh điều trị lần đầu, bác sĩ (hoặc dược sĩ) cần yêu cầu bệnh nhân thông báo lại bất cứ bất thường nào trên mắt, đặc biệt trong những tuần đầu điều trị. Nếu có dấu hiệu biến đổi thị giác, cần ngừng sử dụng topiramat để ngăn ngừa nguy cơ mất thị lực vĩnh viễn và bệnh nhân cần được khám bác sĩ chuyên khoa mắt ngay.

Vigabatrin có thể được sử dụng để điều trị cơn động kinh kháng thuốc ở những bệnh nhân không đáp ứng với các thuốc điều trị động kinh khác. Nhưng thuốc có nguy cơ gây hẹp thị trường đồng tâm hai bên tiến triển và vĩnh viễn kèm theo giảm thị lực. Khoảng 30-40% số bệnh nhân bị mất thị lực do vigabatrin. Nguy cơ mất thị lực liên quan đến thời gian dùng thuốc (trên 6 tháng) và liều sử dụng. Tuy nhiên, ở một số trường hợp đặc biệt, nguy cơ này cũng có thể xảy ra khi sử dụng vigabatrin với bất cứ liều và thời gian điều trị nào. Do đó, bệnh nhân cần khám mắt trước khi dùng thuốc này điều trị. Khi xuất hiện các dấu hiệu độc tính trên mắt, cần ngừng thuốc ngay. Sau khi ngừng thuốc, vẫn cần khám mắt trong vòng ít nhất 3-6 tháng.

Thuốc trị sốt rét

Hydroxycloroquin và cloroquin là các thuốc điều trị sốt rét, có hoạt tính chống viêm, chống huyết khối và điều biến miễn dịch. Ngoài điều trị bệnh sốt rét, hydroxycloroquin còn được dùng để điều trị các bệnh như luput ban đỏ hệ thống và viêm khớp dạng thấp. Cả cloroquin và hydroxycloroquin đều có nguy cơ gây độc trên mắt. Cơ chế gây độc vẫn chưa được hiểu rõ, có thể do ảnh hưởng đến chuyển hóa của các tế bào võng mạc và gắn với melanin trong tế bào sắc tố nội võng. Ở giai đoạn sớm của độc tính, việc mất độ nhạy thị giác và mất thị lực có thể xảy ra. Độc tính của cloroquin và hydroxycloroquin có đặc trưng là bệnh lý điểm vàng “mắt bò” hai bên. Hiện nay, chưa có biện pháp điều trị bệnh lý võng mạc do hydroxycloroquin gây ra. Ngừng thuốc có thể làm ngừng tiến triển bệnh, nhưng không hồi phục các tổn thương mà thuốc đã gây ra.

Trước khi dùng hydroxycloroquin, cần khám mắt cho bệnh nhân. Trong quá trình dùng thuốc, bệnh nhân nên được khám mắt từ 3-6 tháng/lần.

Thuốc trị loãng xương

Biphosphonat (alendronat, ibandronat và risedronat) được sử dụng trong kiểm soát loãng xương ở nam giới và phụ nữ sau mãn kinh. Phản ứng viêm tại mắt đã được ghi nhận trong quá trình sử dụng biphosphonat trong điều trị bao gồm viêm kết mạc, viêm màng bồ đào, viêm củng mạc, viêm thượng củng mạc và viêm giác mạc.

Với đa số trường hợp, viêm kết mạc có thể tự hồi phục mà không cần điều trị. Một số ít trường hợp có thể phải dùng các thuốc chống viêm không steroid (NSAID) tra mắt để điều trị viêm. Viêm màng bồ đào thường phải dùng thuốc điều trị tại chỗ hoặc toàn thân và ngừng dùng biphosphonat. Với viêm thượng củng mạc, có thể dùng các thuốc tra mắt và tiếp tục dùng biphosphonat. Nếu có viêm củng mạc, cần ngừng biphosphonat để giải quyết các triệu chứng.

Thuốc trị lao ethabutol

Ethambutol được dùng trong điều trị bệnh lao, thuốc thường được dùng trong phối hợp bốn thuốc trong điều trị với isoniazid, rifampicin và pyrazinamid. Thuốc gây một số tác dụng bất lợi trên mắt, nghiêm trọng nhất là viêm dây thần kinh thị giác. Các tác dụng bất lợi trên mắt khác có thể gặp bao gồm thay đổi khả năng nhìn màu và giảm thị trường. Ngừng sử dụng ethambutol nếu có bất cứ triệu chứng nào trên mắt và thông báo ngay cho bác sĩ điều trị.

Thuốc trị rối loạn cương

Các thuốc ức chế phosphodiesterase týp 5 (PDE5) như sildenafil, vardenafil và tadanafil được sử dụng trong điều trị rối loạn cương dương thông qua ức chế guanosin monophosphat vòng. Tadanafil cũng được chỉ định sử dụng hàng ngày để điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt. Các chất ức chế PDE5 có thể gây phản ứng bất lợi trên mắt, chủ yếu là thay đổi nhận biết màu sắc và nhìn mờ, thay đổi khả năng tiếp nhận ánh sáng, sợ ánh sáng và đau mắt. Các biến cố trên mắt thường xuất hiện sau 15-30 phút và đạt đỉnh sau 60 phút dùng thuốc. Bệnh nhân có tiền sử mắc bệnh lý thần kinh thị giác do thiếu máu cục bộ vùng trước không do nguyên nhân động mạch không nên dùng các thuốc ức chế PDE5 do làm tăng nguy cơ tái phát.

PGS.TS. Vũ Đặng Hoàng