Dư luận đang đặc biệt quan tâm tới những nội dung của Bộ luật Lao động dự kiến sẽ được sửa đổi, bổ sung, trong đó có dự định điều chỉnh tăng tuổi về hưu. Không ít câu hỏi đã được đặt ra như: Việc tăng tuổi về hưu có thật sự cần thiết? Mục đích của việc điều chỉnh là gì? Có phải để tránh nguy cơ “vỡ” quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH)? Có phải để kéo dài thời gian công tác của những cán bộ lãnh đạo? Đặc biệt, tăng tuổi về hưu có làm mất cơ hội việc làm của những lao động trẻ?...

Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan được giao nghiên cứu xây dựng dự thảo sửa đổi, bổ sung Điều 187 Bộ luật Lao động 2012 (quy định tuổi về hưu), việc điều chỉnh tuổi về hưu không chỉ là một trong những bước đi cần thiết để thực hiện quyền bình đẳng giới theo các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, phù hợp với xu thế chung của nhiều quốc gia trên thế giới, mà còn hướng tới việc giải quyết những thách thức từ xu hướng già hóa dân số; bảo đảm tính bền vững của quỹ BHYT; đồng thời tận dụng được chất xám, kinh nghiệm của những lao động cao tuổi để phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới.

Trên thực tế, trong những năm gần đây, việc Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh đã khiến nhiều tổ chức quốc tế và các cơ quan quản lý nhà nước đặc biệt lo ngại. Dù là một chỉ dấu cho thấy những tiến bộ trong công tác chăm sóc sức khỏe nói riêng cũng như phản ánh những thành tựu về kinh tế - xã hội nói chung của đất nước, nhưng việc tuổi thọ bình quân của người dân tăng nhanh (hiện đã là 73,2 tuổi - trong đó nam là 70,6 tuổi; nữ là 76,0 tuổi, tăng gấp hai lần so với tuổi thọ trung bình năm 1945), quá trình già hóa dân số bị rút ngắn… cũng đặt ra nhiều thách thức. Trong đó, thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt nguồn lao động trẻ tham gia thị trường lao động; những người lao động trẻ tuổi phải lao động nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập gia đình khi lao động cao tuổi về hưu. Chính vì vậy, việc tăng tuổi về hưu đã trở thành giải pháp được nhiều quốc gia trên thế giới lựa chọn để có thêm nguồn nhân lực cho nền kinh tế; đồng thời vừa giúp họ tránh được việc sớm phải phụ thuộc vào các nguồn quỹ bảo đảm an sinh xã hội (như quỹ bảo hiểm hưu trí) hay phải “sống dựa” vào con cháu, vừa tận dụng được hiệu quả những kỹ năng, kinh nghiệm mà lao động trẻ phải mất nhiều năm mới tích lũy được. Và tất nhiên, trong xu thế lao động trẻ giảm đi (do dân số già); quy mô nền kinh tế không ngừng tăng lên; việc “liên thông” của thị trường lao động khu vực… cơ hội việc làm cho lao động trẻ cũng khó có khả năng giảm sút.

Riêng đối với quỹ BHXH, từ lần điều chỉnh năm 1961 đến nay, chúng ta vẫn áp dụng quy định tuổi về hưu là 60 đối với nam và 55 đối với nữ. Tuy nhiên, trên thực tế, vì nhiều lý do nên hiện nay tuổi về hưu đối với lao động ở khu vực hành chính sự nghiệp, đảng, đoàn thể, lực lượng vũ trang dù là cao nhất nhưng cũng chỉ là 56,13 tuổi, còn lao động trong các doanh nghiệp FDI là 55,3 tuổi; lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân chỉ là hơn 52 tuổi… Việc về hưu sớm, trong khi tuổi thọ bình quân tăng lên đã làm kéo dài thời gian hưởng lương hưu và là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng tới độ “an toàn” của quỹ hưu trí trong tương lai. Để bảo đảm cân đối Quỹ, trong điều kiện việc tăng mức đóng hay giảm mức hưởng đều khó thực hiện thì tăng tuổi về hưu là phương án cần tính tới.

Chỉ qua phân tích hai lý do trên, chúng ta có thể thấy, tăng tuổi về hưu là một lựa chọn có thể thỏa mãn nhiều mục đích. Vấn đề còn lại là các cơ quan có trách nhiệm phải có những tính toán cụ thể, từ đó đưa ra những phương án điều chỉnh phù hợp nhất giữa yêu cầu chung và nguyện vọng của người lao động.