Nhà văn Tô Hoài nhận xét: "Thơ Trần Huyền Trân càng về sau càng gồ ghề sắc thái thời thế. Hiện tượng đó không phải bất chợt mà đấy là tâm hồn, sức sống, hành động đã quyện làm một...". Trong bài Thay lời nói đầu tập thơ Rau tần, Nguyễn Đình Thi viết: "Những lời thơ đẹp anh nói về đất nước, tôi thấy cũng chính là nói về cái ánh sáng trong đời thơ của anh...". Vậy đấy, cả một đời thơ Trần Huyền Trân, dù viết trong cay đắng nhọc nhằn hay trong gian lao dữ dội, vẫn mang một vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp như ánh sáng!

Nhà văn Tô Hoài nhận xét: "Thơ Trần Huyền Trân càng về sau càng gồ ghề sắc thái thời thế. Hiện tượng đó không phải bất chợt mà đấy là tâm hồn, sức sống, hành động đã quyện làm một...". Trong bài Thay lời nói đầu tập thơ Rau tần, Nguyễn Đình Thi viết: "Những lời thơ đẹp anh nói về đất nước, tôi thấy cũng chính là nói về cái ánh sáng trong đời thơ của anh...". Vậy đấy, cả một đời thơ Trần Huyền Trân, dù viết trong cay đắng nhọc nhằn hay trong gian lao dữ dội, vẫn mang một vẻ đẹp tự nhiên, vẻ đẹp như ánh sáng!

Cái dấu nối đẫm nước mắt

Ông tên thật là Trần Đình Kim, sinh ngày 13-9-1913 tại Nhà thương Làm Phúc, Hà Nội. Quê gốc huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, bố, mẹ Trần Đình Kim phải ly hương đi làm thuê kiếm ăn nhiều nơi, rồi dạt về sống ở một xóm nghèo là Cống Trắng, Khâm Thiên. Những năm đầu thế kỷ 20, đây là khu vực bùn lầy nước đọng, phần đông cư dân là lớp người dưới đáy.

Năm Trần Đình Kim lên bảy tuổi thì người bố qua đời. Thuở ấy, từ Cống Trắng nối sang các làng Kim Liên, Trung Tự là một vùng rộng lớn đầm và ruộng sâu, Kim vừa gắng mò cua, kiếm cá, giúp mẹ nuôi đứa em nhỏ, vừa gắng theo học cho đến đệ nhị thì phải bỏ học hẳn. Từ năm mười bảy tuổi, Kim đã lặng lẽ viết những bài thơ về cuộc đời mình: Tôi ở lều tranh- tôi ở đây/Cánh lòng giam hãm mấy hôm nay/Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức/Giăng phải hồn tôi một lưới đầy... (bài Mấy ngày mưa): Chàng thi sĩ lúc này đang sống bằng nghề kéo vó bè, những câu thơ ngày mưa thật buồn. Người mẹ có tấm lòng bao dung đặc biệt, một số cô gái lầm lỡ bị lừa vào các nhà cô đầu ở phố Khâm Thiên, sau cố gắng trốn ra, được bà che chở. Bà sống bằng nghề kiếm cá, nên trong bài thơ, thi sĩ gọi mẹ là "Ngư bà"...

Hai mươi tuổi, Trần Đình Kim bắt đầu chuyên chú viết thơ, văn và làm báo. Khi phong trào Thơ mới khởi phát, ông gửi thơ đăng trên báo Phụ nữ thời đàm, với bút danh Cô Vân Anh và Lê Dân, được bạn đọc chú ý. Văn và thơ ông tiếp tục xuất hiện trên các tờ Ngọ Báo, Tiểu thuyết Thứ bảy, Ích Hữu, Phổ thông Bán nguyệt san và tạp chí Tao Đàn. Ông được nhiều nhà văn, nhà thơ quý mến, đặc biệt thân thương là Thâm Tâm, Vũ Trọng Can, Bùi Huy Phồn và sau có thêm Nguyễn Bính. Có thời gian dài Thâm Tâm và Nguyễn Bính tá túc tại căn lều kéo vó trong ngõ xóm Sơn Nam, và được "Ngư bà" cưu mang như con...

Năm 1937, khi làm báo Bắc Hà, ông thuê một căn phòng ở Giám (Văn Miếu) để làm tòa soạn. Tầng trên thì mẹ con cô Trần Nguyệt Hiền sống. Ngoài việc cùng bạn bè làm báo, nhà thơ còn nhận thêm việc làm gia sư cho con trai chủ nhà. Rồi chính quãng ngày này đã nảy nở mối tình của ông với Trần Nguyệt Hiền, và nó thành thơ ông: Một chiều hương nhẹ mấy chiều gió đưa... Nhưng, hai người đều nghèo khó. Bà mẹ của Nguyệt Hiền đã dứt ruột gả bán cô cho một tay chủ đồn điền giàu có vào loại nhất nhì đất Bắc.

Thân phận nàng hầu, không lâu sau Nguyệt Hiền bị thải về nhà mẹ đẻ khi đã mang thai. Nhà văn Tô Hoài có nói rằng: "Chút duyên chết đuối trong cảnh ngộ ấy của hai con người họ Trần, giữa cơn đau đời đã khiến họ nghĩ ra cái dấu nối đẫm nước mắt, Trần nối với Trần bằng dấu huyền là Trần Huyền Trân". Con gái Trần Nguyệt Hiền ra đời được đặt tên là Trần Huyền Trân, mệnh yểu, chỉ sống được sáu tháng. Còn nhà thơ thì dùng tên đó làm bút danh. Mối tình cay đắng này đã vào thơ Trần Huyền Trân: Còn gì nữa ở lều tranh/Ở lòng em, ở lòng anh, còn gì/Tương phùng là để biệt ly/Biệt ly là một lòng đi qua lòng/Giờ thuyền em đã sang sông/Anh nhìn khói sóng ngỡ trông mây đèo (bài Mười năm).

Sân khấu là một cứu cánh

Trần Huyền Trân là một thi sĩ đa cảm và độc đáo của Thơ mới, đặc biệt thơ lục bát của ông, tình thơ da diết, hình ảnh thơ giản dị mà đẹp lạ thường. Trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân có đoạn: "Viết đến đây tôi định khép cửa lại, dẫu có thiên tài đến gõ cửa cũng không mở. Thế mà lại phải mở cửa để đón một nhà thơ nữa: Trần Huyền Trân!".

Từ đầm Liên Hoa, Cống Trắng, Trần Huyền Trân thường đến chơi với người bạn vong niên ở phố Cầu Mới. Đó là thi sĩ danh tiếng Tản Đà những năm cuối đời đã thấm thía thật nhiều buồn tủi. Mối giao tình này sẽ còn được người đời ngâm ngợi mãi qua bài Với Tản Đà, Trần Huyền Trân viết năm 1938:

Cụ hâm rượu nữa đi thôi Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu Rồi lên ta uống với nhau Rót đau lòng ấy vào đau lòng này...

Ngoài thơ, Trần Huyền Trân còn viết văn, làm báo và rất năng nổ trong hoạt động sân khấu. Năm 1938, ông cùng Lê Tràng Kiều, Vũ Trọng Can, Chu Ngọc, Bùi Nguyên Cát... sáng lập Ban kịch Hà Nội, tiền thân của Nhà hát kịch Hà Nội ngày nay. Những năm này, qua hoạt động sân khấu, Trần Huyền Trân phần nào quên được những đau đớn trong quá khứ. Ông viết nhiều, và lần lượt cho xuất bản các tác phẩm: Sau ánh sáng (tiểu thuyết, 1940); Tấm lòng người kỹ nữ (truyện dài, 1941); Người ngàn thu cũ (truyện dài, 1942). Trần Huyền Trân viết nhiều truyện ngắn nói về thân phận những người nghèo ở Hà Nội, trong đó có những truyện dường như viết về đời sống bản thân mình, sau in trong hai tập Chim lồngLẽ sống.

Một tâm hồn như Trần Huyền Trân tất tìm đến với cách mạng, đầu năm 1943, ông tham gia Hội văn hóa Cứu quốc do Việt minh lãnh đạo. Với bút danh Đỗ Quyên, ông viết một số bài thơ chống đế quốc và phát-xít, đăng trên các báo bí mật như Cờ giải phóng, Cứu quốc... Vốn đã rất hào hứng với hoạt động sân khấu từ mấy năm trước, đến thời điểm Cách mạng Tháng Tám, Trần Huyền Trân thấy sân khấu như là lãnh địa đắc dụng. Từ Ban kịch Hà Nội, ông cùng bạn hữu chuyển sang xây dựng Đoàn kịch Tháng Tám. Trần Huyền Trân cùng với Thâm Tâm viết và dàn dựng vở kịch Phá xiềng và vở 19 tháng Tám, góp phần làm sôi nổi đời sống sân khấu Hà Nội... Nói như nhà viết kịch Bùi Nguyên Cát thì, "chính nghệ thuật sân khấu là một cứu cánh cho đời sống tình cảm Trần Huyền Trân nữa đấy". Bởi, thời gian hào hứng hoạt động sân khấu này, Trần Huyền Trân đã gặp, rồi thân quen với hoa khôi Hà thành lúc bấy giờ là Bùi Hạc Đính. Là em gái của nhà thơ Nam Hương Bùi Huy Cường. Hạc Đính có một cửa hàng bán mỹ phẩm, nhưng cũng đã tham gia đóng các vai chính của vở diễn Nửa chừng xuân (Mạnh Phú Tư chuyển thể từ tiểu thuyết của Khái Hưng), và vai Thị Lộ trong vở diễn Lệ Chi viên (của Vi Huyền Đắc). Trai tài gái sắc gặp nhau tất nảy sinh duyên tình. Và rồi, mối tình đẹp ấy khiến Hà Nội có thêm một đám cưới. Đó là mùa xuân năm 1946, đám cưới của Trần Huyền Trân và Bùi Hạc Đính được tổ chức theo nghi thức đời sống mới tại Tòa Đốc lý Hà Nội (trụ sở của UBND thành phố Hà Nội ngày nay).

Vui sống trên mọi nẻo đường

Ngay sau đám cưới, Trần Huyền Trân và Bùi Hạc Đính sống những ngày vô cùng hạnh phúc. Ngoài việc chỉ đạo nghệ thuật, dàn dựng vở diễn, cả kịch thơ, kịch nói, chèo, ông còn viết một số vở kịch thơ, như Lên đường, Hoàng Văn Thụ (Đoàn kịch Tháng Tám dàn dựng)... Bà Bùi Hạc Đính hồn nhiên trở thành nghệ sĩ sân khấu chuyên nghiệp, vào các vai diễn trên sân khấu với tất cả sự say mê nghệ thuật cùng hạnh phúc bên chồng. Nhưng ngay sau đám cưới của hai người, lại bắt đầu những ngày máu lửa, tại Thủ đô, người Hà Nội vào cuộc chiến đấu "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh".

Nhóm bạn chí thiết trong Ban kịch Hà Nội bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ, chỉ có vợ chồng Trần Huyền Trân là có đôi. Đôi trai tài gái sắc Huyền Trân - Hạc Đính đã cùng Đoàn kịch Tháng Tám lên chiến khu Việt Bắc, thường xuyên đi biểu diễn phục vụ bộ đội, nhân dân. Rất ít thì giờ dành cho thơ, nhưng ông có viết bài Bến đợi, tặng bà Hạc Đính, có câu: "Ta thương nhau thương cả tình đời", là thơ tình yêu mà cũng nghĩ đến cả bạn bè đồng chí hướng. Những năm tháng lịch sử ấy, cùng bè bạn, ông và bà Hạc Đính đã làm việc hết mình và thật sự vui sống trên mọi nẻo đường kháng chiến.

"Rau tần" là một đời thơ

Do sóng gió cuộc đời, do những nguồn cảm hướng sống mới mẻ theo thời cuộc, từ năm 1947, sự nghiệp chính của Trần Huyền Trân gắn liền với nghệ thuật sân khấu, nhưng đến năm 1976, lại thấy ông chi chút sáng tác thơ và sửa chữa những bài thơ đã viết từ mấy chục năm trước. Và rồi, năm 1986, ông cho xuất bản tập thơ Rau tần. Rau tần là rau muống, thứ rau bạt ngàn trong khu đầm Liên Hoa, nơi thi sĩ đã dựng ngôi lều để kiếm cá, nuôi mẹ. Trong tập Rau tần có bài Mưa đêm lều vó,viết từ tuổi niên thiếu, giới thiệu về mình: Tôi ở lều tranh Cống Trắng đây/Chạnh lòng cá nhảy với mây bay; có bài viết thuở đang yêu, một mình cô quạnh giữa Hà thành: Xa nhau gió ít lạnh nhiều/Lửa khuya tàn chậm mưa chiều đổ nhanh/Bóng đơn đi giữa kinh thành/Nhìn duyên thiên hạ nghe tình người ta/Đêm về, hương ngát bên hoa/Tỉnh ra, thì lại vẫn là chiêm bao... (bài Tương tư).

Ba năm sau khi xuất bản tập thơ Rau tần, thi sĩ qua đời. Những người hiểu về cuộc đời Trần Huyền Trân đều nói rằng, ông đã có được hai hạnh phúc lớn là thuở trai trẻ đã chí hiếu thờ mẹ, khi về già được người vợ tận tình chăm chút. Và đó cũng là một ánh sáng đẹp.

TÂN AN