Viết văn phụ thuộc nhiều nhất vào cái duyên của người sáng tác. Cái duyên đó là sự gặp gỡ kết hợp kỳ lạ giữa tâm hồn nghệ sĩ và cuộc sống tạo ra một sản phẩm đặc biệt khác thường. Giống như trong cuộc đời, gặp hàng nghìn cô gái đẹp nhưng chỉ nảy sinh tình yêu với một người. Còn nếu kẻ gặp cô gái nào cũng yêu, thì chắc chắn chẳng ra gì cả.

May dac diem trong sang tao nghe thuat - Anh 1

Duyên văn

Những tác phẩm văn chương nổi tiếng thường được ra đời trong những hoàn cảnh kỳ lạ, tưởng chừng như trái quy luật. Nhiều bộ tiểu thuyết cổ điển rất dày của Trung Quốc: Tây du ký, Tam Quốc, Thủy Hử... lại là chỉnh biên những sáng tác lưu truyền trong dân gian từ lâu đời. Bộ tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình của L.Tôn-xtôi (Nga) ra đời cuối thế kỷ XIX nhưng lại viết rất hay về cuộc chiến tranh từ đầu thế kỷ mà tác giả không hề được chứng kiến. Hai tác phẩm văn chương nổi tiếng nhất của nước ta Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm, một là sáng tác trên cốt truyện đã có sẵn của nước ngoài và một là bản dịch tác phẩm chữ nước ngoài. Tác phẩm văn chương lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại là Nhật ký trong tù ra đời trong hoàn cảnh tác giả không có ý định làm văn chương....

Trong cuộc đời sáng tác của mỗi nhà văn, nhà thơ cũng vậy thôi. Tác phẩm hay nhất của họ chưa hẳn đã là tác phẩm họ ấp ủ và bỏ nhiều công sức nhất. Tố Hữu có nhiều bài thơ hay về các bà mẹ, nhưng về người mẹ đẻ của mình thì anh cũng chỉ viết được đến Quê mẹ. Trần Đăng Khoa thuở nhỏ làm thơ chủ yếu về làng quê của em, nhưng bài thơ được nhiều người thán phục lại là Đêm Côn Sơn, nơi lần đầu tiên em đến. Nguyễn Đình Thi chăm chú dồn công sức vào viết nhiều tập tiểu thuyết, nhưng thành công của anh lại ở thơ. Nhiều nhà văn, nhà thơ khi viết những tác phẩm tự phát đầu tiên thì rất hay, sau đó viết một cách tự giác với nhiều điều kiện tưởng chừng như hơn hẳn, nhưng lại không có được tác phẩm nào hay nữa...

Viết văn phụ thuộc nhiều nhất vào cái duyên của người sáng tác. Cái duyên đó là sự gặp gỡ kết hợp kỳ lạ giữa tâm hồn nghệ sĩ và cuộc sống tạo ra một sản phẩm đặc biệt khác thường. Giống như trong cuộc đời, gặp hàng nghìn cô gái đẹp nhưng chỉ nảy sinh tình yêu với một người. Còn nếu kẻ gặp cô gái nào cũng yêu, thì chắc chắn chẳng ra gì cả.

Trong công việc phê bình văn chương cũng vậy. Không phải cứ đọc xong một cuốn tiểu thuyết hoặc một tập thơ là có thể phê bình được. Nếu thế chỉ là những bài điểm sách. Những tác phẩm phê bình thực sự cũng phải có duyên bí ẩn kia. Hình như cái duyên của phê bình còn hiếm hơn cái duyên của sáng tác, nên trong lịch sử mới ít để lại tác phẩm phê bình và ít các nhà phê bình.

Những tác phẩm xuất thần

Trong truyện Tam quốc diễn nghĩa (Trung Quốc) có kể chuyện một tráng sĩ khi bị lực lượng đông đảo của đối phương truy đuổi mà trước mặt là một dòng sông khá rộng lúc bình thường sức ngựa không thể phi qua được. Tráng sĩ ngửa mặt than trời, thì bỗng con ngựa dồn sức tung vó bay được qua sông. Ở Việt Nam ta, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nữ anh hùng Ngô Thị Tuyển, để chuyển đạn kịp thời cho các mâm pháo bảo vệ cầu Hàm Rồng bắn trả máy bay giặc Mỹ, một lần chị đã vác được hai hòm đạn nặng 98 kg, gấp đôi trọng lượng của cơ thể chị… Đó là những phút xuất thần làm được những điều kỳ diệu vượt quá khả năng bình thường trong thực tế cuộc sống.

Trong lĩnh vực văn chương cũng có nhiều tác phẩm xuất thần có chất lượng cao hơn hẳn khả năng bình thường của tác giả. Nhà thơ Tào Thực (thứ nam của Tào Tháo trong truyện Tam Quốc) bị anh cả là Tào Phi ép đi bảy bước phải làm được một bài thơ nếu không thì xử tội. Tào Thực chỉ cần đi năm bước đã làm xong bài thơ Cành đậu đun hạt đậu nổi tiếng và được xá tội. Nhà báo Phu-xích (Cộng hòa Séc) trong trại giam của phát xít Đức thời chiến tranh thế giới lần thứ hai đã viết những trang xuất thần có giá trị văn chương lớn Viết dưới giá treo cổ.

Các nhà văn Việt Nam cũng nhiều người có những tác phẩm xuất thần với mức độ khác nhau. Ấy là Chế Lan Viên viết Điêu tàn, Tô Hoài viết Dế Mèn phiêu lưu ký, Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ ở tuổi còn rất non trẻ mà đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật. Hiện tượng những nhà thơ chỉ nổi tiếng ở một bài như: Vũ Đình Liên với Ông đồ, Vũ Cao với Núi đôi, Minh Huệ với Đêm nay Bác không ngủ, Trần Hữu Thung với Thăm lúa, Lý Phương Liên với Ca Bình Minh, Ngô Thị Bích Hiền với Ông mặt trời… Và rất nhiều nhà thơ có những câu thơ xuất thần như: Khương Hữu Dụng với Một tiếng chim kêu sáng cả rừng, Xuân Diệu với Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung, Trần Đăng Khoa với câu thơ Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng…

Mọi người hay gọi những tác phẩm xuất thần là những tác phẩm được trời cho. Mặc dù chỉ là một người vô danh trên thi đàn, nhưng tôi cũng có những câu thơ được nhà thơ Trần Đăng Khoa từng bảo là trời cho. Ấy là khi anh biên tập giúp tôi tập thơ Trăng suông. Trong tập thơ này tôi có một chùm thơ ba bài khóc người chị ruột chết trẻ. Đây là những bài thơ hoàn toàn nói về tình cảm riêng nên tôi chưa bao giờ dám gửi in ở đâu. Khoa bảo đây là một chùm thơ hay. Đặc biệt, hai câu kết của bài thơ “Nhớ chị”: Sao hàng cây, con đường vẫn thế/ Mà không còn bóng chị, chị ơi! thì Khoa bảo: Hai câu này là trời cho bác, chứ bác không thể viết được.

Vậy thế nào là xuất thần, là trời cho? Đó là những tác phẩm vượt lên trên khả năng sáng tạo của tác giả lúc bình thường. Nó chỉ ra đời do một sự kết hợp đặc biệt giữa các yếu tố vào một thời điểm nào đó. Nói trời cho là nói vậy, chứ nó cũng của tác giả thôi. Nhưng do sự giao cắt bất ngờ giữa các yếu tố mà tạo nên. Từ sự thôi thúc tích tụ, dồn nén nào đấy, rồi gặp sự phá vỡ đột ngột mà vọt trào, mà chuyển đổi thành một chất lượng khác, đôi khi chính tác giả cũng phải ngỡ ngàng. Nhưng muốn có thể có được những tác phẩm như thế, tất nhiên không thể ngồi há miệng chờ sung mà phải sống hết mình, yêu hết mình, hiến thân cho cuộc đời, hy sinh cho nghệ thuật, may ra mới có thể có được một phút xuất thần, mà cũng có thể suốt đời không có. Ai mà biết được! Nghệ thuật có thể có quy luật chung, nhưng với từng cái riêng thì lại chẳng có quy luật nào.

Độ chín của mỗi nhà văn

Mỗi nhà văn có một đặc điểm khác nhau. Sự phát triển và độ chín của đời văn mỗi người cũng khác. Người chín sớm, người chín muộn, thời gian vào độ chín ngắn hoặc kéo dài cũng mỗi người một khác. Thực ra thì các nhà thơ, nhà văn cũng rất ít khi để ý đến điều này. Cảm xúc cứ đến thì họ viết. Nhưng những người viết văn có ý thức tự giác thì cũng nên biết khi nào đời văn của mình vào độ chín. Khi ấy, nhà văn nên dẹp tất cả mọi thứ để tập trung vào trang viết. Bởi vào độ chín thì hoa sẽ đậu quả rất nhiều và những quả đậu thường là rất chắc mẩy. Giai đoạn chín của đời văn có thể có những bất thường, biết đâu lại có được những trái lạ đặc biệt.

Vậy thế nào là đời văn đang vào độ chín? Thường thì đó là lúc hội tụ các yếu tố một cách đặc biệt. Cảm xúc thì đang tươi mới mà trí tuệ thì đã nhận biết được nhiều điều, vốn sống thực tế đã giàu có, ý thức về bản thân thì đang vững tin nhất, cảm hứng sáng tác thôi thúc hệ thống hình tượng chuyển động... Những yếu tố này mà hợp thành thì nhà văn không viết ra không chịu nổi. Nên nhiều nhà thơ, nhà văn nói quá trình sáng tạo để giải tỏa là vì thế. Tất nhiên không phải ở nhà thơ, nhà văn nào vào độ chín thì tất cả các yếu tố liên quan đến sáng tạo cũng nhất loạt quy tụ. Có thể ở người này chỉ là sự gặp gỡ của vài ba yếu tố, ở người khác các yếu tố hội tụ nhiều hơn. Rồi trong quá trình hội tụ và chuyển động của các yếu tố nó lại thu hút hoặc sinh ra những yếu tố khác đẩy độ chín tăng thêm. Thời điểm hội tụ của các yếu tố như thế thì có thể viết tác phẩm nào được tác phẩm ấy, tác phẩm thường hoàn thiện vượt ra ngoài sự mong muốn của chính tác giả, và có thể có những đột biến.

Vũ Trọng Phụng đời văn vào độ chín khá sớm nên đã kịp để lại cho đời những kiệt tác, chứ nếu không ông chết ở tuổi 27 thì sẽ là sự thiệt thòi rất lớn cho nền văn chương nước nhà. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tuy đời văn vào độ chín muộn hơn cùng với lúc anh bước vào văn đàn ở tuổi gần bốn chục, nhưng độ chín lại kéo dài được đến chục năm nên sự nghiệp văn chương cũng khá vững chãi, dù sau đó anh viết đuối sức và nhạt hẳn. Nguyễn Khắc Trường thì làm lính tập ở thao trường khá dài, nhưng khi chín thì Mảnh đất lắm người nhiều ma cũng là bõ công sức luyện tập. Từ đó đến nay đã hơn hai thập kỷ rồi, nhiều người đoán già đoán non về những tác phẩm mới của anh; nhưng theo tôi thì không hứa hẹn một điều gì lớn, bởi anh đã cách nhật quá lâu rồi, sinh nở rất khó...

Nói vậy, chứ sáng tạo văn chương nghệ thuật là điều khó đoán định nhất. Mọi người thường nói thơ đi liền với tuổi trẻ mà cụ Tam nguyên Yên Đổ về hưu cảm hứng sáng tạo văn chương mới sầm sập đổ về. Bài nào làm cũng như làm chơi thôi mà rồi người đời cứ truyền mãi. Nguyễn Bính thì thời trẻ ở quê chưa được học hành mấy, viết một loạt thơ chân quê có đến mươi bài mang dấu hiệu của thiên tài. Thế rồi, anh ra thành phố có không khí văn chương, có bạn bè, kiến thức cao thêm, tầm nhìn mở rộng, nhưng độ chín của thơ thì lại đã qua rồi... Nàng thơ chàng văn thường đỏng đảnh rất khó mà nắm bắt níu giữ. Nên ai đó chưa đẻ mà đã cục tác thì tôi thường không tin. Bởi muốn đẻ được thì phải chuẩn bị. Mà đẻ một đứa con tinh thần không dễ, thậm chí có lúc còn khó hơn đẻ một đứa con thực trong đời sống...

Đinh Quang Tốn

Từ khóa

đặc điểm sáng tạo nghệ thuật