Máy bay WP-3D Orion sử dụng chung thân khung của P-3 Orion được phát triển với mục đích thu thập dữ liệu khí tượng trong mọi điều kiện thời tiết.

Máy bay WP-3D Orion- sát thủ đối đầu những siêu bão

Máy bay WP-3D Orion không thuộc biến chế của Quân đội Mỹ mà thuộc Cục quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ (NOAA). Với vai trò tác chiến chống ngầm, máy bay WP-3D Orion có lẽ đã quá nổi tiếng trên thế giới. Tuy nhiên nó cũng có một đặc biệt biến thể khác được thiết kế để đối đầu với một trong những kẻ thù tự nhiên đáng sợ nhất của con người đó là những cơn bão, thông tin trên Kiến Thức.

Về thiết kế, máy bay thời tiết WP-3D Orion sử dụng chung thân khung của P-3 Orion vốn được phát triển để có thể hoạt động liên tục trên biển, tất nhiên là với một số sửa đổi về trang thiết bị điện tử cũng như tính năng bổ sung cho phép nó có thể hoạt động trong một cơn bão.

May bay WP-3D Orion My: 'Sat thu' san bao khong doi thu - Anh 1

Máy bay WP-3D Orion Mỹ. Ảnh: Kiến Thức

Dù là máy bay nghiên cứu khoa học nhưng WP-3D Orion được trang bị tới hai hệ thống radar giám sát riêng biệt với hệ thống radar bằng tần C ở đầu và dưới thân của máy bay, trong khi đó một hệ thống radar X-band khác được lắp ở đuôi máy bay. Bên cạnh đó WP-3D Orion còn có thể triển khai cả loại phao cho phép thu thập dữ liệu môi trường bên ngoài khi nó bay trong một cơn bão.

Hệ thống động cơ trên WP-3D Orion vẫn được giữ nguyên so với P-3 Orion với bốn động cơ cánh quạt phản lực Allison T56-A-14 có công suất 4.600shp mỗi chiếc, cho phép máy bay đạt vận tốc tối đa 745km/h với tầm hoạt động 9.000 km.

Hiện tại NOAA đang tiến hành đại tu cả hai chiếc WP-3D Orion trong giai đoạn từ 2015-2017 với giá trị ước tính lên tới 35 triệu USD cho phép bộ đôi này hoạt động thêm ít nhất hai thập kỷ nữa.

Những phiên bản "sát thủ tàu ngầm"

Còn đối với "sát thủ tàu ngầm" phiên bản P-3 Orion, báo Giao thông dẫn thông tin từ trang tin IHS Jane's cho biết, P-3 Orion lần đầu tiên trình làng tại triển lãm hàng không quốc tế Paris Air Show vào năm 1963 và bắt đầu phục vụ trong Hải quân Mỹ từ những năm 1960 với nhiệm vụ chủ yếu là tuần tiễu săn ngầm.

"Sát thủ săn ngầm" P-3 Orion có chiều dài 35,6m; chiều cao 10,3m với sải cánh 30,4m; khối lượng cất cánh tối đa 63,45 tấn, sử dụng 4 động cơ cánh quạt T56-A-14 công suất 4.600 mã lực. Tốc độ tối đa của máy bay là 760km/h, trần bay 10.400m, tầm hoạt động tới 4.400km khi tuần tiễu ở tốc độ 600km/h và có thể hoạt động liên tục trên không 16 tiếng.

P-3 Orion có khả năng mang nhiều loại vũ khí với tổng khối lượng 9 tấn như tên lửa chống hạm AGM-84H/K Harpoon, AGM-84E SLAM, tên lửa không đối đất AGM-65 Maverick, ngư lôi MK-46, MK-50, MK-54... Với khối lượng vũ khí này, P-3 Orion không chỉ có khả năng săn lùng tàu ngầm mà còn tiêu diệt mục tiêu trên mặt nước và cả mục tiêu trên bộ.

Biến thể hiện đại nhất của P-3 Orion là P-3C được bàn giao cho Hải quân Mỹ từ 1969 và đã được nâng cấp nhiều lần. Một phi đội tiêu chuẩn vận hành P-3C Orion có 11 người, bao gồm 3 phi công, 2 sĩ quan giám sát bay hải quân, 2 kỹ thuật viên bay, 3 sĩ quan vận hành thiết bị trinh sát và một kỹ thuật viên chung.

Với nhiệm vụ chủ yếu là chống ngầm, P-3C được trang bị rất nhiều thiết bị trinh sát hiện đại như sonar DIFAR, thiết bị phát hiện điểm từ trường bất thường (MAD)... Các thông tin thu thập sẽ được chuyển đến máy tính trung tâm, từ đó sẽ phân tích, lưu trữ, gửi đến các cấp chỉ huy hay vận hành tự động những vũ khí trên máy bay.

May bay WP-3D Orion My: 'Sat thu' san bao khong doi thu - Anh 2

Máy bay máy bay P-3 Orion nổi tiếng trên thế giới về tác chiến chống ngầm. Ảnh: Kiến Thức

Gói nâng cấp đầu tiên của P-3C được thực hiện năm 1975 chủ yếu nhằm vào nâng cấp máy tính xử lý thông tin cùng phần mềm. Gói nâng cấp thứ hai năm 1977 được lắp đặt cảm biến hồng ngoại, nâng cấp hệ thống tiếp nhận thông tin thủy âm, nâng cấp khả năng sử dụng tên lửa chống hạm Harpoon. Gói nâng cấp thứ ba của P-3C được thực hiện từ giữa những năm 1980 với rất nhiều nội dung so với 2 gói nâng cấp trước, bao gồm bộ vi xử lý tín hiệu thủy âm IBM Proteus mới.

Hệ thống xử lý tín hiệu cũ chỉ có thể nhận tín hiệu từ sonar trên 31 kênh sóng khác nhau, trong khi hệ thống được nâng cấp có thể tiếp nhận tín hiệu trên 99 kênh với khả năng chuyển kênh bất kể lúc nào, đảm bảo tín hiệu truyền về được tiếp nhận và xử lý hoàn toàn trong thời gian nhanh nhất.

Ngoài ra, bản nâng cấp thứ ba này cũng có thêm nhiều nội dung quan trọng khác như bộ xử lý tín hiệu đơn (SASP) cho phép nhanh chóng phân biệt tín hiệu thu về là tầu ngầm hay tạp âm đơn thuần của đại dương. Tín hiệu thu được từ nhiều phao thủy âm sẽ được phân tích và hiển thị cùng lúc, cho phép người vận hành đánh giá dễ dàng và chính xác tình hình.

An Dương (T/h)