Sáng nay (27/10), Quốc hội làm việc tại hội trường nghe tờ trình một số dự thảo luật. Thừa ủy quyền của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long trình bày dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) và Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi).

Luat se quy dinh ro pham vi trach nhiem boi thuong cua Nha nuoc - Anh 1

Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Theo Tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long trình bày, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 đã trở thành công cụ pháp lý quan trọng để cá nhân, tổ chức bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức nói riêng cũng như chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung.

Tuy nhiên, Luật hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và thiệt hại được bồi thường chưa được cập nhật nên không đầy đủ, thiếu đồng bộ với những thay đổi trong quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và các quy định trong các bộ luật, luật mới ban hành để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013.

Cụ thể, Luật quy định chưa rõ ràng việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong nhiều tình huống, do đó đã gây khó khăn cho việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường cũng như trong việc thực hiện yêu cầu bồi thường, dẫn tới hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết bồi thường. Luật quy định chưa rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm của người ra quyết định hoàn trả dẫn đến việc hoàn trả của người thi hành công vụ còn bị xem nhẹ và chưa được thực hiện thống nhất...

Khắc phục những hạn chế này, dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (sửa đổi) quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án; thiệt hại được bồi thường; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; cơ quan giải quyết bồi thường; thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường; phục hồi danh dự; kinh phí bồi thường; trách nhiệm hoàn trả; trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong công tác bồi thường Nhà nước.

Dự thảo Luật có 9 chương, 78 điều (so với Luật hiện hành, dự thảo Luật đã sửa đổi 42/67 điều, bỏ 20 điều và quy định mới 36 điều),

Thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đề nghị dự thảo Luật cần xác định rõ chủ thể có trách nhiệm giải quyết bồi thường, nguồn kinh phí bồi thường; các quy định về trình tự, thủ tục bồi thường cần bảo đảm đơn giản, thuận tiện, chặt chẽ, đúng pháp luật. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người bị thiệt hại trong việc lựa chọn hình thức giải quyết yêu cầu bồi thường, cần nghiên cứu bổ sung quy định cá nhân, tổ chức bị thiệt hại khi đã có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường thì có quyền lựa chọn hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án hoặc giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này. Quy định này tạo cơ chế hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, thể hiện đúng tính chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Luat se quy dinh ro pham vi trach nhiem boi thuong cua Nha nuoc - Anh 2

Toàn cảnh phiên họp sáng 27/10. Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội trong trợ giúp pháp lý

Theo Bộ Tư pháp, quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý, trong đó quan trọng nhất là các quy định của Luật hiện hành bộc lộ những bất cập, thiếu đồng bộ với các văn bản luật được ban hành gần đây; thiếu cơ chế bảo đảm để thực thi đầy đủ các quy định về quyền được trợ giúp pháp lý. Nhận thức về vị trí, vai trò và yêu cầu đổi mới công tác trợ giúp pháp lý có lúc còn chưa đầy đủ, có nơi chưa quan tâm đúng mức; công tác phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hoạt động trợ giúp pháp lý đôi khi còn chưa chặt chẽ; các nguồn lực và đội ngũ cán bộ làm trợ giúp pháp lý còn hạn chế.

Do vậy, việc sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý là nhằm tạo khuôn khổ pháp lý cho công tác trợ giúp pháp lý theo hướng chuyên nghiệp hóa, xã hội hóa, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, xã hội nhằm cung cấp kịp thời dịch vụ pháp lý cho người được trợ giúp pháp lý có nhu cầu, tạo bước chuyển biến căn bản, đột phá trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý; bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên; đồng bộ với khuôn khổ pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Dự thảo Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi) gồm 8 chương, 49 điều.

Thẩm tra dự án luật này, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội đề nghị cần tạo lập các cơ chế để thu hút nhiều hơn nữa sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội vào hoạt động này, không chỉ bằng nguồn lực của họ mà cả bằng nguồn lực của Nhà nước, san sẻ trách nhiệm của Nhà nước với xã hội. Đồng thời, đề nghị Chính phủ báo cáo, đánh giá cụ thể, sâu sắc hơn về việc tham gia của các tổ chức, cá nhân trong xã hội vào hoạt động trợ giúp pháp lý thời gian qua (về số lượng, loại hình, chất lượng vụ việc giải quyết trợ giúp pháp lý và nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước dành cho tổ chức, cá nhân này...) để có thêm cơ sở cho việc Quốc hội xem xét, quyết định.

Xuân Tuyến