NDĐT- Hơn 30 năm, kể từ ngày những người thợ dầu khí Liên Xô (chủ yếu là các công dân Nga, A-déc-bai-gian, Bê-la-rút…), đặt chân lên mảnh đất Vũng Tàu, Làng Nga đã trở thành một phần không thể tách rời của cư dân phố biển. Đã có những thế hệ người Nga sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này. Vietsovpetro và Bà Rịa- Vũng Tàu, từ lâu, đã trở thành biểu tượng minh chứng cho mối quan hệ son sắt, thủy chung giữa hai dân tộc.

Phụ nữ Việt- Nga trong Liên doanh Việt- Nga Vietsovpetro.

1- Làng Nga, đó là tên gọi thân thuộc người dân TP Vũng Tàu dành cho cộng đồng người Nga đang sinh sống tại Khu năm tầng trên đường Nguyễn Thái Học. Thời điểm “cực thịnh”, nơi đây có tới 5.000 nghìn người cư trú.

Cuộc sống của họ, cùng tất cả những gì hiện hữu nơi đây, đủ để những ai, từng sống và học tập tại nước Nga, nhớ về một thời kỷ niệm. Kỹ sư V.A. Kun-đi-xép, phụ trách công tác khoan trên giàn RP II, tâm sự: “Tôi có rất nhiều người bạn Việt Nam, nhất là những người đã từng học tập và làm việc ở nước Nga. Không ít người trong số họ nhớ về nước Nga như chúng tôi nhớ về quê hương mình vậy. Mỗi lần như vậy, họ lại đến Làng Nga. Tại đây, họ phần nào vợi đi nỗi khắc khoải về mảnh đất từng cưu mang, che chở họ trong suốt những năm tháng xa quê”.

Gần 20 năm gắn bó với Làng Nga, Kun-đi-xép và gia đình đã có hơn mười năm đón Tết ở Vũng Tàu: “Tôi nhớ mãi cái Tết đầu tiên ở Bà Rịa- Vũng Tàu, khác rất nhiều với những cái Tết ở Nga, chỉ có tình cảm thì ở đâu cũng vậy, chan chứa và ân tình. Tết Nguyên đán là Tết của Việt Nam, là phong tục truyền thống của các bạn. Song chẳng hiểu từ bao giờ, cán bộ, kỹ sư, công nhân người Nga trong liên doanh Vietsovpetro chúng tôi luôn xem đó như là Tết của mình”. Cũng như rất nhiều các cán bộ, kỹ sư người Nga khác, Kun-đi-xép có nhiều năm ăn Tết ở trên giàn. Anh tâm sự: “Ở giàn khoan, chúng tôi xem nhau như anh em một nhà, không phân biệt người Nga hay người Việt. Tết đến, mỗi người mỗi việc, không ít người Nga giờ biết gói cả bánh chưng, giò thủ hay làm những món ăn dân tộc cổ truyền. Có năm, các bạn còn bắt chúng tôi xông đất, rồi tổ chức văn nghệ đón giao thừa. Vui, vui lắm”.

Nhớ lần bầu cử Tổng thống Nga mới đây, cả Làng Nga rực rỡ sắc màu của băng-rôn, biểu ngữ. Cờ và hoa, sự náo nức của người dân trong làng, đủ để chúng tôi cảm nhận hết không khí tưng bừng như trong ngày hội của người dân Nga ngay trên mảnh đất Vũng Tàu. Nguyên Phó Tổng giám đốc Vietsovpetro Trần Hồi khẳng định: “Đấy thật sự là một nước Nga thu nhỏ”.

Trên giàn khoan mỏ Bạch Hổ, hằng ngày, có cả trăm cán bộ, công nhân người Việt và người Nga cùng làm việc.

2- Lịch sử hơn 50 xây dựng và phát triển của ngành dầu khí Việt Nam luôn ghi dấu những đóng góp quên mình của những người bạn Nga và nhiều quốc gia thuộc cộng đồng Liên bang Xô-viết.

Kể từ mũi khoan đầu tiên, đầu những năm 60 của thế kỷ trước, của Đoàn thăm dò dầu khí 36, tiền thân của Tổng cục Dầu khí và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam, tại các tỉnh phía bắc, đến mũi khoan đi vào lịch sử, từ tàu Mikhain Mirchin, ngày 24-5-1984, phát hiện dòng dầu công nghiệp đầu tiên trên thềm lục địa, là cả một quá trình lao động và chiến đấu không ngừng của những cán bộ, kỹ sư Việt Nam và các chuyên gia Xô-viết.

Ngày 26-6-1986, giếng số 1, mỏ Bạch Hổ, cho dòng dầu thương phẩm đầu tiên. Tin vui làm ấm lòng đồng bào và chiến sĩ cả nước. Trên bản đồ dầu khí thế giới, một cái tên mới, trẻ trung đã xuất hiện.

Nguyên Tổng Giám đốc Vietsovpetro V.S.Vovk (giai đoạn 1988-1991) nhớ lại: “Giai đoạn này, sản lượng khai thác từ mỏ Bạch Hổ rất khiêm tốn, và dĩ nhiên hoạt động của xí nghiệp không thể sinh lời. Cần phải có những giải pháp để thay đổi tình hình. Nếu không, xí nghiệp rất có thể bị giải thể”.

Tiếp tục khoan và tiếp tục thử giếng. Đó là những quyết định mang tính lịch sử. “Khoan hết một choòng, đo khảo sát địa vật lý, không phát hiện gì. Khoan tiếp, đến 3 giờ sáng thì giếng hoạt động, áp suất gần 120 at. Tôi bay ra giàn ngay trong buổi sáng, nhanh chóng chuẩn bị lắp đặt ống liên kết, đưa giếng vào khai thác. Chỉ bốn tháng sau, chúng tôi đã chuyển giếng từ sơ đồ khai thác tạm thời sang sơ đồ khai thác thường xuyên. Và như vậy, giai đoạn phát triển như vũ bão của Vietsovpetro bắt đầu” - Tổng Giám đốc V.S.Vovk hồi tưởng.

Sau khi đạt đỉnh khai thác vào năm 2002 với 13,5 triệu tấn, sản lượng khai thác của Vietsovpetro liên tục giảm mỗi năm 1 triệu tấn. Nguyên Tổng giám đốc Vietsovpetro Nguyễn Hữu Tuyến tâm sự: “Theo sơ đồ quy hoạch, sản lượng khai thác của xí nghiệp liên doanh năm 2010 sẽ giảm xuống dưới sáu triệu tấn; đến năm 2013, chỉ còn 3,8 triệu tấn”.

Việc sụt giảm sản lượng khai thác không chỉ ảnh hưởng doanh thu và lợi nhuận cả hai phía, mà còn quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Đó chính là "động lực" để Vietsovpetro đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò, gia tăng hệ số thu hồi dầu khí. Và kết quả thật đáng khích lệ. Liên tục trong những năm từ 2009 đến nay, Vietsovpetro đã chặn đứng đà sụt giảm sản lượng, duy trì ổn định sản lượng hằng năm hơn 6,3 triệu tấn, đóng góp quan trọng vào việc bảo đảm kế hoạch thực hiện của toàn ngành.

Không chỉ đẩy mạnh hoạt động thăm dò địa chất và khai thác ở trong nước, Vietsovpetro mạnh dạn mở rộng hoạt động ra nước ngoài, nhất là đầu tư sang LB Nga và các nước thuộc Liên Xô trước đây, nhằm phát huy thế mạnh của doanh nghiệp trong việc sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo chính quy tại LB Nga và những chuyên gia Nga từng công tác ở Vietsovpetro nay đã về nước.

Sau hơn 30 năm xây dựng và phát triển, Vietsvpetro đã khai thác thành công hơn 200 triệu tấn dầu với tổng doanh thu hơn 60 tỷ USD, nộp ngân sách và lợi nhuận cho Nhà nước gần 39 tỷ USD, phía Nga gần 10 tỷ USD.

Xuất phát từ lợi ích của hai nước, tình hữu nghị giữa hai dân tộc, tháng 12-2010, đại diện hai Chính phủ Việt Nam và LB Nga đã ký Hiệp định về việc tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực thăm dò địa chất và khai thác dầu khí trong khuôn khổ Liên doanh Việt -Nga Vietsovpetro, mở ra giai đoạn phát triển mới của Vietsovpetro đến năm 2030.

3- Chiếc trực thăng chở Đoàn cán bộ Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và lãnh đạo Liên doanh Việt- Nga Vietsovpetro, đã lên cao, nhưng các cán bộ, kỹ sư, công nhân, cả người Việt, người Nga, ở hầu hết các giàn nơi đoàn đến thăm, vẫn chưa quay lại phòng làm việc. Những cái vẫy tay, như thay lời muốn nói, của cả người đi lẫn những người ở lại, khiến chúng tôi không khỏi nao lòng.

Năm nào cũng vậy, trước Tết Nguyên đán một hai tuần, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu lại tổ chức đoàn ra thăm, động viên tập thể lao động quốc tế Việt- Nga trên các công trình biển. Những cành mai, cành đào, thắm sắc xuân, theo những chuyến bay, có mặt trên những giàn khoan từ rất sớm.

Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa- Vũng Tàu Nguyễn Tuấn Minh chia sẻ: “Đặc khu Vũng Tàu- Côn Đảo trước đây và Bà Rịa- Vũng Tàu ngày nay luôn mở rộng vòng tay với những người bạn Nga, mà Làng Nga là một minh chứng rõ nét nhất.

Thành tích của Xí nghiệp liên doanh dầu khí Vietsovpetro, hơn 30 năm qua, thật đáng tự hào. Những đóng góp hiệu quả của tập thể lao động quốc tế Việt- Nga vào sự phát triển của đất nước nói chung và tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu nói riêng là rất lớn. Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu luôn sát cánh, chia sẻ với đơn vị, với những người lao động Vietsovpetro”

Hơn 50 năm trước, ngày 23-7-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm khu công nghiệp dầu khí Ba-cu, A-déc-bai-gian (thuộc Liên Xô trước đây), Người đã nói: Tôi nghĩ Việt Nam có biển, nhất định sẽ có dầu, nhưng đang trong chiến tranh chưa làm được. Tôi hy vọng và tin rằng sau khi kháng chiến thắng lợi, Liên Xô sẽ giúp chúng tôi tìm ra dầu, rồi khai thác và chế biến dầu, xây dựng được khu công nghiệp dầu khí như Ba-cu hiện nay.

Ước mong của Bác Hồ kính yêu ngày nào giờ đã thành hiện thực. Từ một ngành công nghiệp non trẻ, lạc hậu và thiếu thốn mọi bề, ngành công nghiệp dầu khí nước ta đã không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những tập đoàn kinh tế đầu tàu của đất nước.

Đóng gópvào sự phát triển vượt bậc ấy không thể không nhắc tới sự giúp đỡ chí tình của những người bạn Nga, của tình hữu nghị thủy chung, son sắt giữa hai dân tộc.

Những công dân Nga nghiên cứu danh sách và bỏ phiếu bầu Tổng thống Nga tại Làng Nga (TP Vũng Tàu).

LÊ ANH TUẤN