Tới lớp 11, khi các bạn nam đã lún phún mọc ria mép, vỡ tiếng... thì tôi vẫn là một đứa trẻ con, tôi buồn vô cùng. Tuy nhiên, tôi bắt đầu yêu ngay từ ngày nhập học cấp 3…

“Đêm nay có thuyền em đi, thuyền trôi nhanh tới nơi đầu sông…” Trước khi chuyển nhà ra khu biệt thự, gia đình tôi có một chị cháu họ của mẹ lên phụ việc nhà. Chị rất đẹp, mẹ chị là đào hát, ba là họa sĩ của đoàn hát Bội Đồng Xuân Lâu, ông vẽ cảnh trí cho đoàn. Ba mẹ chị bỏ nhau, chị thừa hưởng gen của bố mẹ chị nên ngoài giờ cơm nước, giặt giũ, chăm lo cho bọn tôi thì chị vẽ tranh bằng phấn viết tường trên bếp. Chị vẽ những rừng cây không có lá, những thiếu nữ mặc áo dài, tóc dài nhưng không có mắt mũi, tôi xem cứ thấy rờn rợn nhưng lại mê mẩn bởi ẩn nấp sau mỗi nét vẽ của chị là cảm giác về mùa, về những thân cây khẳng khiu, chơ vơ trong gió đông hay về những tà áo Huế dịu dàng cuốn gió, chới với trong mưa. Mỗi lần vẽ xong, chị lại ký tên Thùy Linh bên dưới, chữ ký bay bướm và đẹp mê hồn. Tôi thấy chị rất lạ, có đôi lúc bất chợt nhìn chị, tôi thấy chị đẹp, một vẻ đẹp như rất gần mà như rất xa khiến tôi có cảm giác chị sẽ tuột ra khỏi cuộc sống của tôi bất cứ lúc nào. Tôi còn nhớ, nhà có chiếc xe đạp mini nhưng cả nhà không cho tôi đi. Tôi đã lấy trộm ra tập và thích cảm giác ngồi trên xe, phi trên con đường lóc xóc với đất đá lởm chởm, chỉ muốn đẩy mình ngã. Rồi tôi cũng bị ngã lộn nhào xuống ao, pê-đan xe đã đâm vào chân (mà tới giờ vết sẹo vẫn còn nguyên bên chân trái), tôi đã rút chiếc ống của pê-đan xe đó ra với nguyên cả máu và thịt giắt vào, tôi mấm mồm mấm lợi không dám la vì sợ có ai đó biết về mách ba và anh Bi, nhưng vì đau quá, nước mắt cứ tuôn trào. Bất chợt thôi thấy chị Thùy Linh đi tới, chị nhìn và cuống lên, lao tới đỡ tôi, khi chị xé tà áo buộc vết thương cho tôi, tôi có cảm giác như mọi đau đớn tan biến hết. Và tôi dường như thấy nước mắt tôi chuyển qua hết cho chị. Nhìn chị ngước mắt lên, những giọt nước mắt ngấn ngấn trong đôi mắt nâu mở to, với hàng mi dày khẽ chớp thì tôi như mất hết cảm giác đau đớn, tê dại. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không thể quên được giọt nước mắt đó chảy và ngưng lại khóe môi cong với làn môi dày đầy đặn, hồng hồng của chị. Mỗi ngày sau đó, những lúc dọn dẹp xong và cho các em ngủ, chị nhận thêm nón Huế về trầm nón lá bài thơ. Khoản tiền người ta trả, chị lại mua quà cho tụi tôi hoặc dành tiền mua vé xem phim. Nhưng… Chị yêu một người cùng xóm, anh ấy có vẻ đẹp gai góc, giang hồ, công ăn việc làm không có nên gia đình họ mạc chúng tôi khuyên và ngăn cấm chị không nên yêu anh ấy. Và rồi… chị ấy có bầu. Thời điểm đó, có bầu trước khi cưới là một trọng tội và nó kinh khủng lắm. Tôi không rõ được sự kinh khủng tới đâu nhưng tôi bắt gặp sự hoảng hốt trong đôi mắt nâu mở to của chị. Và rồi, anh chị rủ nhau chết, uống thuốc… Nhưng sau đó, chị đã về quê và mất ở quê nhà. Khi chị mất, trời lất phất mưa, thuyền đưa quan tài chị đi và câu hát mà chị vẫn thường ngâm nga lại vang vọng trong tôi, như thể chị đang ở đâu đó, ngước đôi mắt nâu to cùng hàng mi dày, ngấn lệ, hát vọng về: Đêm nay có thuyền em đi thuyền trôi nhanh đến nơi đầu sông… Chuyến đi xa đầu đời Những ngày đầu tiên chuyển sang khu biệt thự, tôi bị hẫng hụt một thời gian. Cái chết của chị Thùy Linh cứ vương vất quanh tôi. Những câu hát, những bức vẽ và cả đôi mắt nâu to tròn ngấn ngấn nước dưới lớp mi dày, cái miệng mòng mọng… tất cả in đậm trong trí óc tôi. Tôi không chỉ nhớ chị Linh mà còn nhớ cả con đường quanh co trong xóm, nhớ khoảng không gian mờ mịt mưa Huế, nhớ những rặng dâm bụt lấp ló hoa trong khu xóm lao động nghèo. Tôi rất hay quay về nhà cũ và khóc thầm một mình. Cảm giác như nơi thân thương này không còn là của mình, không chờ đón mình về mỗi ngày đi học… cứ nghĩ vậy, nước mắt tôi lại trào ra. Nhưng tôi không dám chia sẻ cảm xúc này với ai. Không hiểu sao anh Bi vẫn biết, anh ấy cười chế giễu. Rồi một vài người lớn cũng châm biếm tôi nói là chuyển về cái nhà to đẹp hơn thì mắc mớ gì mà cứ quay về nhà cũ nhỏ bé khóc lóc, sao cải lương thế. Phải mất một thời gian dài như vậy tôi mới nguôi ngoai được. Tôi rất thích về quê nội. Cứ vào ngày tổng kết năm học là tôi lại gói ghém quần áo, từ trường ra thẳng sạp vải của mạ, ăn gì đó rồi ra bến tàu về thẳng quê. Tôi ở liền ba tháng hè, tới trước hôm khai giảng một ngày thì mới về nhà. Ở quê hay có những đoàn cải lương, đoàn chiếu bóng tới chiếu, biểu diễn và lần nào tôi cũng được bà nội dắt đi. Tôi ngồi dưới chỉ mơ ước được trở thành những diễn viên như trên sân khấu. Dường như lần nào tôi cũng mò mẫm ra sau hậu trường để xem diễn viên hóa trang, tôi muốn nhìn thấy những nhân vật trong tác phẩm tôi được xem bằng xương bằng thịt. Có lần đi xem Thạch Sanh, tôi háo hức chạy vào hậu trường, muốn xem tận mặt chàng Thạch Sanh nhưng than ôi, vào tới trong, thấy Thạch Sanh đang ngồi dạng thẻ chơi bài, thậm chí còn… nói tục, chửi thề. Tôi thất vọng quá, về nhà ốm một tuần liền. Trong đầu óc non nớt của tôi khi đó, tôi nghĩ người diễn viên vào vai Thạch Sanh phải đúng như hình ảnh người đó trên sân khấu. Nhưng tôi lại nhìn thấy một điều trái ngược và tôi đã thất vọng tới phát ốm. Sau này, ba tôi có phân tích rằng: “Con phải phân biệt được cuộc đời và sân khấu. Người diễn viên có những lúc cần phải xả hơi mới có thể tiếp tục diễn được. Chú ấy có ngồi chơi bài thì đầu óc chú ấy mới thoải mái để diễn tiếp vai Thạch Sanh cho con xem”. Mọi người nói kiếp cầm ca, diễn xướng là kiếp ăn đường ngủ chợ, vất vả, khổ sở nhưng tôi không thấy như vậy là khổ mà thấy sao họ sướng thế: tối tối cứ quần quần áo áo, son son phấn phấn lên sân khấu với đèn đuốc lung linh. Tôi thấy cuộc sống của họ sao huyền bí, hấp dẫn và thần tiên đến vậy. Cuối năm lớp 8, vì thích hát múa tối ngày, đầu óc mơ mộng vẩn vơ, bay bổng, thêm vào đó, tôi lại gày yếu từ bé nên tôi bị thi lại hai môn: Toán và Thể dục. Ngày đó, tôi chỉ chờ mong tối thứ bảy để xem cải lương hay ca nhạc phát trên vô tuyến trắng đen của gia đình. Tôi hồi hộp xem hết thời sự và điều lo sợ nhất của tôi là… bị mất điện. Mạ có mua bánh trái cho thì cất đi, tới giờ đó mới mang ra ăn, tôi thích nhấm nháp cả “hai niềm hạnh phúc” cùng một lúc: vừa được ăn trái cây, bánh ngon vừa được ngồi xem. Tôi mê mẩn những vở: Bình minh trên hoang đảo, Tìm lại cuộc đời, Tâm sự Ngọc Hân… Bé Trâm là người thân nhất với tôi trong gia đình. Những lúc như thế, tôi thường kéo bé ngồi cùng, vừa thưởng thức vừa bình luận sôi nổi hoặc khóc thút thít với nhau. Tôi còn bắt chước những vở kịch, trước khi đi ngủ, lấy lô cuốn tóc bé Trâm, tới sáng hôm sau thì tóc bé xoăn tít lên, nhìn rất ngộ. Tôi hơn Trâm 6 tuổi nhưng hai anh em rất thân nhau, có gì ăn tôi cũng dành cho bé, chơi gì tôi cũng rủ bé. Buổi tối, ba tôi bắt tôi sang ngủ với anh hai: con trai ngủ với con trai, ba em gái ngủ với nhau, nhưng hai anh em tôi thân nhau đến nỗi, nửa đêm không thấy tôi, bé Trâm lại ôm gối sang giường hai anh ngủ cùng tôi. Tôi yêu quý bé Trâm tới nỗi mà sau này, khi gia đình tôi xảy ra nhiều biến cố, tôi mang bé Trâm theo vào Nha Trang, ở cùng đoàn Hải Đăng và tôi đã ghi trong nhật ký rằng: Tôi sẵn sàng chết, sẵn sàng nhảy vào lửa hay làm bất cứ điều gì để cho người em này được hạnh phúc! Bé Trâm cũng từng nói rằng: Ở cuộc đời này, có bốn người đàn ông mà em đứng trước mặt, hỏi em xem em thương ai nhất thì em không biết trả lời sao: đó là ba tôi, tôi, chồng và con trai của Trâm.