Sau khi hội nhập, không những rào cản thuế quan sẽ bị dỡ bỏ mà nhiều chính sách hỗ trợ, trợ cấp của nhà nước sẽ khó có thể thực hiện được với nhiều ngành, nhiều đối tượng. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ từng lĩnh vực thì vẫn còn những cửa hẹp mà nhà nước có thể hỗ trợ doanh nghiệp, nhìn từ ngành chế biến gỗ.

Lieu da “het cua” tro cap cho doanh nghiep noi khi hoi nhap? - Anh 1

Chế biến bàn ghế ngoài trời xuất khẩu - Ảnh: TL

Tại Hội thảo"Tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa: Trường hợp của ngành chế biến xuất khẩu gỗ và ngành bán lẻ" diễn ra ngày 6-10 tại Hà Nội, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốcTrung tâm WTO và Hội nhập thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho hay việc hỗ trợ cho doanh nghiệp vẫn có thể thực hiện được.

Cụ thể, theo bà Trang, không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế trong nước bị giới hạn đáng kể bởi các cam kết thương mại tự do mà Việt Nam đã hoặc sẽ ký kết, trong đó có chia làm 3 loại: cam kết WTO; cam kết trong các FTA truyền thống và các cam kết FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam (EVFTA).

Tuy nhiên, vẫn còn những ngách nhỏ mà nhà nước có thể hỗ trợ những ngành kinh tế trọng điểm trong nước để nó trở thành đầu tàu kéo các ngành kinh tế còn lại đi lên.

Theo bà Trang, nhà nước vẫn có thể có biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (giới hạn theo loại biện pháp); các biện pháp hỗ trợ các chủ thể kinh doanh nhỏ; các biện pháp trợ cấp dưới các hình thức nghiên cứu, đào tạo, cơ sở hạ tầng…; các biện pháp trợ cấp không cá biệt như không hướng tới một/một nhóm doanh nghiệp cụ thể riêng biệt nào. Những biện pháp hỗ trợ này sẽ không vi phạm các cam kết tự do thương mại mà Việt Nam đã ký kết.

Lấy ví dụ về một ngành sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp là ngành chế biến gỗ. Bà Trang cho hay, đây là một trong sáu ngày kinh tế có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước, kim ngạch tăng 6 lần trong 10 năm (2004-2014). Hơn nữa, đây là ngành kinh tế đã hoàn thành mục tiêu đặt ra trước 5 năm, tức đã đạt kim ngạch gần 7 tỉ đô la Mỹ năm 2015, mức kim ngạch được kỳ vọng sẽ đạt được trong năm 2020.

Ngành gỗ hiện nay có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp, 340 làng nghề, sử dụng 300.000 lao động, chưa kể các lao động trong các làng nghề. Không chỉ vậy, đây cũng là ngành tạo đầu ra cho sản xuất lâm nghiệp, nơi sử dụng hơn 1 triệu lao động trồng rừng. Sự phát triển của ngành gỗ sẽ kéo theo một loạt các ngành khác được hưởng lợi theo, đặc biệt là bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Nhưng bà Trang đặt câu hỏi: “Liệu ngành kinh tế đã mạnh như vậy rồi, nhà nước có cần hỗ trợ?”

Thực sự, dù mạnh nhưng ngành chế biến gỗ vẫn gặp phải nhiều rủi ro.

Ông Tô Xuân Phúc, chuyên gia về thương mại gỗ thuộc Tổ chức Forest Trends tại hội thảo trên cho hay ngành chế biến gỗ trong nước đang gặp phải năm rủi ro chính: rủi ro liên quan tới khả năng đáp ứng yêu cầu về tính hợp pháp của gỗ nguyên liệu; rủi ro xuất phát từ việc thiếu hệ thống kiểm soát chuỗi cung; rủi ro trong bảo đảm tuân thủ pháp luật về lao động; rủi ro do thiếu hiểu biết về quy định của các thị trường xuất khẩu, và cuối cùng là rủi ro phát sinh từ những hạn chế trong khả năng kiểm soát các yếu tố thị trường và ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động xuất khẩu.

Việc hội nhập sắp tới, đặc biệt với việc Việt Nam ký kết TPP và EVFTA, mở ra cho ngành chế biến xuất khẩu đồ gỗ Việt Nam những cơ hội thị trường to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam có nắm bắt được các cơ hội này, thực hiện hóa chúng bằng tăng trưởng xuất khẩu hay không, phụ thuộc một phần lớn vào việc các doanh nghiệp Việt Nam có thể khắc phục, kiểm soát năm nhóm rủi ro trên hay không.

Ngoài ra, bên cạnh sự chủ động, bắt buộc phải có của doanh nghiệp, rất cần những chính sách hỗ trợ, thúc đẩy từ phía Nhà nước để giúp doanh nghiệp khắc phục các rủi ro này. Theo ông Phúc, khả năng khắc phục rủi ro của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng tới bản thân doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng tới cả ngành sản xuất gỗ nội thất và nhiều ngành liên quan. Khi một doanh nghiệp bị phát hiện vi phạm, giả sử liên quan tới tính pháp lý của nguyên liệu gỗ thì nước nhập khẩu có thể đưa ra cảnh báo hoặc siết chặt cơ chế kiểm soát đối với tất cả doanh nghiệp Việt Nam đang hoặc sẽ xuất khẩu sang thị trường liên quan.

Theo bà Trang, đối với riêng ngành chế biến gỗ, kể cả sau khi các FTA thế hệ mới có hiệu lực thì nhà nước vẫn có thể hỗ trợ ngành chế biến gỗ thông qua các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí có thể chỉ hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, không nhất thiết hỗ trợ cả những doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh đó, nhà nước còn có thể hỗ trợ các hộ gia đình, doanh nghiệp tư nhân ngành gỗ.

Ngoài ra, nhà nước có thể hỗ trợ không mang lại lợi ích tài chính cho doanh nghiệp gỗ, hỗ trợ, trợ cấp dưới các hình thức nghiên cứu, đào tạo lao động, cơ sở hạ tầng…cho ngành gỗ.