QĐND - Dân tộc ta có truyền thống tương thân tương ái, lành rách bọc đùm. Biết thế, nhưng trong lần trực tiếp vận động tham gia tặng quà những người dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa, cảm xúc vẫn choáng ngợp trong tim khiến nơi khóe mắt mỗi người long lanh ngấn nước...

QĐND - Dân tộc ta có truyền thống tương thân tương ái, lành rách bọc đùm. Biết thế, nhưng trong lần trực tiếp vận động tham gia tặng quà những người dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa, cảm xúc vẫn choáng ngợp trong tim khiến nơi khóe mắt mỗi người long lanh ngấn nước...

Chúng tôi sắp xếp, chuẩn bị chuyến đi thăm bà con nghèo nơi vùng cao biên giới trong một thời gian ngắn. Rủ thêm mấy anh phóng viên truyền hình, phát thanh nhưng nhiều người gặp lúc bận rộn. Không đi được nhưng trước lúc xe xuất phát, nhiều người cũng mang đến góp những bọc quần áo, một chút tiền nói là để mua lương thực tặng bà con mùa giáp hạt. Trong số những người gửi quà cho đồng bào có cả tiền quỹ Vì người nghèo của một công ty xây dựng nhỏ; lại có cả quà của một nhóm từ thiện vẫn thường hay phát cơm, gạo ở Bệnh viện K Hà Nội. Tóm lại, chuyến này đi, trách nhiệm của chúng tôi khá nặng, ngoài vật chất còn là tình cảm của bà con miền xuôi hướng tới miền ngược.

Đại tá Vũ Sơn Thọ, Tham mưu trưởng Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Sơn La rất vui khi biết chuyến công tác của chúng tôi kết hợp tặng quà và viết báo, anh giới thiệu những điểm vùng sâu vùng xa, vùng nhân dân còn đang khó khăn.

Điểm đầu tiên chúng tôi ghé là xã Nậm Lạnh, thuộc huyện Sốp Cộp. Chủ tịch xã là người miền xuôi lên “tăng cường” - anh Vũ Văn Kỳ, năm nay vừa tròn 35 tuổi. Anh cho biết, xã có 14 bản. Bản nghèo rất nhiều, trong đó đặc biệt có những bản giáp biên giới đường khó đi, kinh tế phát triển kém như Xùa Xa, Na Ngoèo, Huổi Hịa, Hua Lạnh, Pá Vai, Cang Kéo... Anh Kỳ gợi ý chúng tôi tặng quà cho bà con ở bản Nậm Lạnh mới tách ra từ bản Hua Lạnh. Bản mới có 16 hộ, theo nguyên tắc lập bản mới hiện tại thì không đủ điều kiện nhưng chính quyền xã và huyện vẫn quyết định tách để lấy cơ sở đứng chân giúp các hộ khác quần tụ về. Bản mới lập nên đất màu chưa kịp ôm lấy hạt ngô, hạt thóc, con gà, con lợn chưa kịp lớn, còn đói lắm. Xã gọi được vị trưởng bản vào tiếp chúng tôi đó là ông Vừ Pả Câu. Ông Câu là người Mông, có sự hiểu biết và tinh thần giúp dân rất đáng khen ngợi. Ông thường áp dụng các biện pháp nuôi trồng mới nên ruộng nương và đàn gia súc của gia đình phát triển; thu nhập khoảng 80 triệu đồng một năm, ở vùng này như thế là khá giả. Có thu nhập khá, ông lại đầu tư cho 3 con trai ăn học đầy đủ, hiện nay người con trai thứ ba của ông đang học tại Trường Đại học Văn hóa ở Hà Nội.

Học sinh Trường THCS Mường Lạn.

Vừ Pả Câu nói, bản Nậm Lạnh có nhiều người thiếu đói. Chúng tôi tiếc rằng, xe ô tô bị kẹt từ quá xa, mì gói, quần áo đều phải tăng bo xe gắn máy nên không tặng bản được nhiều hơn. Xong, dù có ít cũng khiến Vừ Pả Câu rất cảm động, ông nắm tay chúng tôi rồi hăng hái gùi hàng về.

Từ Nậm Lạnh sang Mường Lạn mất một buổi. Đường không xa nhưng xấu. Chúng tôi bước vào ký túc xá Trường THCS Mường Lạn đúng giờ ăn trưa. Hình ảnh sinh hoạt tạm bợ, khó khăn trong “nhà ăn” khiến mọi thành viên trong đoàn chúng tôi chực khóc. Trên nền đất phủ đầy tro bụi, rác, các em học sinh chia nhau thành từng nhóm nhỏ. Nhiều thì bốn em, ít thì hai. Mỗi nhóm một bếp ba ông đầu rau, vừa nấu vừa ăn. Nhìn vào nồi cơm gạo đỏ chín tới nhưng cứng như đá, tôi rưng rưng không nói nên lời. Có nhóm được thêm nồi canh rau rừng, có nhóm được hai con cá khô to chừng hai ngón tay. Mỗi em một thìa, xúc ăn ngon lành. Có tiếng than: Bằng tuổi này nhiều nơi trẻ còn phải ăn bón! Thấy người lạ, đám học sinh như bầy chim sẻ cười ré lên chạy trốn. Chúng tôi túm được mấy “chú chim” chậm chân nhất để hỏi. Mới biết em nhiều tuổi nhất khoảng 12, ít tuổi nhất lên 7. Tất thảy đều ở bản rất xa trường, tất cả đều là trẻ em người Mông. Một em gái có vẻ chững chạc và tự tin nhất đứng ra kể với chúng tôi, em ở bản Nậm Lem, nằm giáp biên giới Lào, cách trường 25 cây số, đi bộ mất một ngày đường. Em là Giàng Thị Nu, hoàn cảnh rất đáng thương. Bố mất sớm, mẹ đi lấy chồng. Mẹ Nu sinh thêm nhiều em nữa, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, gần như không giúp đỡ được gì. Mọi sinh hoạt đều trông cậy vào các thầy, cô giáo trong trường.

Nu chỉ mấy đứa em lớp dưới: Giàng A Tếch, Thào A Chử, Giàng A Hồ... đều là những em chăm ngoan học giỏi. Được một lúc thì ban giám hiệu trường biết có khách đến thăm. Cô giáo hiệu phó là Tòng Thị Quyên đến tận nơi giúp chúng tôi gọi các cháu về để phát quà. Cô nói: “Khổ thế đấy các anh ạ, các cháu hay xấu hổ, cứ có người lạ là chạy ra xa bẽn lẽn đứng cười”. Cô Quyên cho biết, cả trường có 86 học sinh người Mông đang ở tại trường theo diện “bán trú dân nuôi”. Một tháng, Nhà nước hỗ trợ cho mỗi em 70 nghìn đồng. Như vậy chưa đủ, đặc biệt vào mùa giáp hạt, giáo viên trong trường thường bảo nhau bỏ thêm tiền hỗ trợ học sinh. Về nơi ăn chốn ở của học sinh, các năm trước, các em phải ở ngay tại ngôi nhà gỗ (mà hiện nay đang làm bếp và nơi ăn tập thể). Nhà gỗ này dột nát, mưa xuống là ngập. Cô Quyên kể, nhiều đêm mưa to gió lớn nghe các em khóc mà buốt lòng buốt ruột. Trong tình thế đó chỉ còn mỗi cách cho các em di chuyển lên ngủ ở lớp học. Nhiều đêm di chuyển được chỗ ngủ xong thì trời đã sáng, cô trò ướt như chuột lột, buổi sáng cô trò đều mệt, dạy chẳng được, học cũng chẳng được, chỉ ngồi nhìn nhau khóc.

Ngày 22-12 năm ngoái, trường đã có thêm bốn gian nhà làm nơi ở cho các em. Đây là món quà của các đơn vị quân đội và cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Mường Lạn tặng. Có nhà, các em đã bớt khổ.

Yêu cầu cơ bản nhất cho việc xây dựng nông thôn mới cần có điện, đường, trường, trạm. Thế nhưng ở những bản xa, cơ sở vật chất còn khó khăn chưa đủ đáp ứng. Có đồng chí bộ đội biên phòng nói với chúng tôi rằng: Trước mắt, muốn xin Nhà nước đầu tư cho dân bản ba đường thôi đó là: Đường điện, đường nước và đường giao thông. Hiện giờ đang là mùa khô, đường đi lối lại còn dễ nhưng lại “bí” về đường điện và đường nước. Hai đường này là do dân ta tự khắc phục, nước thì dẫn từ các mó nước từ đầu nguồn khe, suối; điện thì thả máy phát điện mi-ni xuống suối. Điện nước kiểu này rất yếu, phập phù, dùng tằn tiện lắm mới tạm ổn. Ở nhiều bản, máy phát điện mi-ni chỉ phục vụ được nhu cầu sạc pin điện thoại.

Bản Buốc Pát nằm gần Đồn Biên phòng Lóng Sập, đường chim bay chừng 1km. Nhưng muốn tới bản phải đi vòng lên đường tuần tra biên giới rồi men theo “yên ngựa” của những ngọn núi đất liên hoàn, cứ thế leo mãi lên. Đường vòng có chừng mười cây số nhưng xe ô tô cũng phải leo hết non hai giờ. Lên đến nơi mới biết, hôm nay còn may là vì buổi sáng sương tan sớm. Gặp mưa thì chịu.

Đến bản, người lớn đã đi làm nương từ sớm. Chúng tôi lăng xăng, đi gọi, cả bản vắng lặng, tìm mãi mới thấy mấy đứa trẻ chừng ba bốn tuổi cởi truồng nghịch đất, bùn lấm mặt be bét. Tôi dúi cho mỗi đứa một gói kẹo rồi bảo đi gọi người lớn về. Chúng chạy tóe đi. Mấy anh em chúng tôi đành ngồi chờ. Chừng vừa sôi ấm nước thì thấy bà con lục tục kéo về. Té ra, được hiệp đồng từ sớm nên Bộ đội Biên phòng đã đi gọi bà con, nhưng bà con lại tham công tiếc việc tranh thủ đi làm.

Phó trưởng bản, anh Giàng A Páo bảo mùa này dân sắp đói gắt, mùa giáp hạt đã vào tới cửa rồi. Bản có chừng ba chục nóc nhà nhưng có đến 14 hộ đói. Nguyên nhân, ngẫm lại cũng chỉ tại dân hiểu biết còn hạn chế, tiếp tay cho kẻ xấu buôn bán hê-rô-in; rồi nghiện hút, không còn sức lao động. Có nhiều trường hợp rất thương tâm, bố mẹ nghiện để con sống bơ vơ; hoặc vì nghiện ngập mà vợ bỏ chồng, chồng bỏ vợ đi lấy người khác, tìm cuộc sống khác, sự chia ly đó cuối cùng các cháu nhỏ lại phải gánh chịu cuộc sống vất vưởng, cô đơn. Có trường hợp đau lòng của bà Thào Thị Sông năm nay đã ngoài 70 tuổi, có hai đứa con vì buôn bán hê-rô-in phải đi tù để lại cho bà 9 đứa cháu, đứa lớn 13 tuổi, đứa nhỏ mới lên 3. Các “nàng dâu” của bà, người thì đi lấy chồng khác, người thì bỏ nhà đi xa. Mấy bà cháu xin ăn quanh xóm mấy tháng trong năm.

Bản Buốc Pát nghèo xác xơ như tầu lá chuối khô. Tất cả đều do cái chết trắng hê-rô-in kia đầu độc; để cái nghèo cái khó làm lú lẫn cái đầu. Một người già của bản, ông Mùa A Ký nói: Bộ đội Biên phòng đã cứu bản Buốc Pát, giúp dân sáng cái đầu.

Việc bắt đầu từ mấy năm về trước, các thầy giáo Bộ đội Biên phòng kiên gan vận động từng nhà, từng hộ cho các cháu đến trường. Đến nay, Buốc Pát đã có điểm trường tập trung, lứa nhỏ hơn có bầy cháu của bà Thào Thị Sông đã được cắp sách đến trường, đã đọc thông viết thạo. Các cháu đi học vẫn được các chú bộ đội hỗ trợ thêm gạo ăn, giấy vở, bút, sách... Bộ đội Biên phòng đã giúp bà con một số giống cây trồng để xây dựng kinh tế. Đáng kể nhất trong đó có củ dong riềng. Đây là loại dong giống mới, năng suất cao, là một cây đã giúp nhiều gia đình tự túc được lương thực. Ngoài ra, thực hiện chủ trương xây nhà đại đoàn kết cho dân nghèo các bản vùng biên của Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng, mấy năm qua Bộ đội Biên phòng ở Lóng Sập cũng đã giúp dân xây được hai căn nhà đại đoàn kết.

Tấm lòng của các chú bộ đội, người dân bản Buốc Pát sẽ mãi nhớ. Chúng tôi thầm cảm ơn các anh đã cùng đồng bào no đói bên nhau bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Bài và ảnh: Lê Đông Hà