Vĩnh biệt nhà văn Lê Văn Thảo, con người nhiều tình cảm, giàu lòng vị tha; ngại chốn quan trường, thích tìm đến người nghèo, chọn nhân vật có số phận bất hạnh để viết

“Trong đời tôi, vinh dự nhất là có 2 lần được đứng tên sau Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là thuở thanh xuân, tôi vào chiến trường, được gọi là Bộ đội Cụ Hồ. Và năm tháng cuối đời, tôi được Giải thưởng Hồ Chí Minh”. Câu phát biểu này Lê Văn Thảo nói với tôi qua điện thoại lúc phỏng vấn ông ngay sau khi hay tin ông được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (2012), để kịp thời in trên báo.

Không nhớ tôi đã đọc Lê Văn Thảo từ lúc nào nhưng chắc chắn là lúc đang còn ở chiến trường K. Vì sao quyển này ít ai nhắc đến? Ngay cả trong Kỷ yếu của Hội Nhà văn Việt Nam cũng không thấy ông liệt kê. Đó là tiểu thuyết “Bên lở bên bồi”. Nếu tính từ năm 1965, bắt đầu viết với những bài bút ký chiến trường, so với những cây bút cùng thế hệ như Trang Thế Hy, Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Đinh Quang Nhã, Võ Trần Nhã… theo tôi, về sau, Lê Văn Thảo mới thật sự chứng tỏ “gừng càng già càng cay”.

Le Van Thao mai mai “len nui tha may”(*) - Anh 1

Nhà văn Lê Văn Thảo. (Ảnh do gia đình nhà văn cung cấp)

Điều này, có thể nhìn thấy qua “Một ngày và một đời” - giải A tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998). Rồi sau đó, năm 2006, ông lại nhận được giải ASEAN với tiểu thuyết “Cơn giông”.

Đến nay, nhiều bạn đọc vẫn còn nhớ đến truyện ngắn “Ông cá hô” của ông đã được chuyển thể thành phim. Và tác phẩm sau chót “Nhỏ con có chịu đi không?” cũng tạo ra sự ngạc nhiên ở bạn đọc về một sức viết tươi mới.

Nhà văn Trần Nhã Thụy cho rằng: “Có một truyện của Lê Văn Thảo ít được nhắc đến nhưng đó có lẽ là truyện hay nhất của ông: truyện dài “Hòn Sơn Rái”. Cái “hòn” nhỏ bé nằm giữa quần đảo Nam Du và đảo Hòn Tre (Kiên Giang), nơi vốn tương truyền Nguyễn Ánh khi bị quân Tây Sơn dồn đuổi đã trôi dạt đến đây (vào năm 1777), được Lê Văn Thảo “phục dựng” với những câu chuyện rất lạ lùng. Như một người vừa viết huyền thoại vừa giải huyền thoại, “Hòn Sơn Rái” vừa có tính chất là một khảo cứu phong tục, vừa đậm chất hư cấu văn chương vừa thấy đó như những thước phim tài liệu vừa ao ước được dựng thành một phim truyện”.

Với ông, tôi vẫn nhớ nhất là những tháng năm ông giữ cương vị Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM. Với bản tính xuề xòa, dễ gần gũi, chân tình, chính ông đã kéo hội viên ngồi lại với nhau. Thỉnh thoảng, anh em tạt ngang qua hội, gặp ông cùng dăm ba câu tếu táo, hỏi han nhau về sáng tác cứ như thể về nhà của mình. Không có sự cách biệt. Sự thân thiện ấy; sau này, khó có thể tìm lại được nữa.

Sinh thời, ông tự nhận: “Bản tính viết chậm, không nhanh nhạy với cái mới, không giỏi theo thời thượng. Thường viết về kỷ niệm, hồi ức xưa cũ. Nhiều năm tháng ở thành phố nhưng vẫn gốc người nhà quê, trong chiến tranh viết về nông thôn, du kích, bộ đội. Sau chiến tranh, viết về vùng đất, con người đồng bằng sông Cửu Long, rừng U Minh, Đồng Tháp Mười. Ngại giao tiếp, ngại chốn quan trường, nơi cao sang quyền quý, thích tìm đến xóm lao động, người nghèo dân dã nơi thường có những lời hay ý đẹp, những câu chuyện hay, chọn nhân vật có số phận hẩm hiu, bất hạnh, lại có nhiều tình cảm giàu lòng vị tha. Cố viết thật giản dị, tránh giáo huấn, cao đàm, hùng biện, cố đồng hành cùng người đọc, dành khoảng trống cho người đọc”.

Có thể xem đây là “tuyên ngôn” sáng tác của ông.

Sáng nay, tin nhà văn Lê Văn Thảo mất, tôi không bất ngờ bởi đã biết lâu nay, ông đang chống lại bệnh ung thư dạ dày. Mới đây thôi, ngày 27-4-2016, Hội Nhà văn TP HCM đã tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề “Nhà văn Lê Văn Thảo - Tác phẩm và cuộc sống”, vì sức khỏe yếu nên ông đã không thể đến dự được. Khi viết những dòng này, tôi đã bật ra những câu thơ:

Về thôi, “Lên núi thả mây”

Bỗng “Cơn giông” đến dạ dày buốt đau

Ngóng theo “Sông nước Vàm Nao”

“Ông cá hô” đã đi vào trăm năm…

Xin ghi lại như một lời tiễn biệt ông!

------------

(*) Tên một truyện ngắn của Lê Văn Thảo

Một tên tuổi lớn

Nhà văn Lê Văn Thảo đã trút hơi thở cuối vào lúc 1 giờ ngày 21-10 tại nhà riêng (số 162/5 đường Bình Lợi, phường 13, quận Bình Thạnh, TP HCM), hưởng thọ 77 tuổi.

Ông tên thật là Dương Ngọc Huy, sinh ngày 1-10-1939 tại huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Ông lớn lên ở An Giang, sau đó lên Sài Gòn học Đại học Khoa học Tự nhiên.

Năm 1962, ông thoát ly lên chiến khu làm công tác văn hóa văn nghệ. Ông bắt đầu viết văn từ năm 1965 với đề tài nông thôn, chiến tranh du kích.

Sau năm 1975 ông về công tác ở Hội Nhà văn TP HCM. Ông từng giữ cương vị Phó Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ TP HCM; Chủ tịch Hội Nhà văn TP HCM từ năm 2000-2010, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VII (2005-2010).

Có thể nói, cùng với nhà văn Nguyễn Quang Sáng, nhà văn Anh Đức, nhà văn Lê Văn Thảo được đánh giá là nhà văn có bút pháp điêu luyện. Bằng nhiều tác phẩm của mình, ông đã góp phần lớn cho diện mạo văn học Việt Nam, nhất là trong giai đoạn từng bước hội nhập với văn hóa thế giới, tạo sức hút mạnh mẽ đối với bạn đọc.

Những tác phẩm văn học của ông cho đến bây giờ vẫn chiếm cảm tình của số đông các thế hệ bạn đọc như: “Đêm Tháp Mười” (1972), “Ông cá hô” (1995), “Một ngày và một đời” (1997), “Con mèo” (1999), “Cơn giông” (2002), “Truyện ngắn chọn lọc” (2003), “Lên núi thả mây” (2011). Trong đó, tác phẩm “Ông cá hô” đã được dàn dựng thành phim.

Sự nghiệp văn học của nhà văn Lê Văn Thảo đã được trao nhiều giải thưởng: Giải A tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam, giải thưởng Văn học ASEAN năm 2006, giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật năm 2007, giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật năm 2012 cho các tác phẩm “Con đường xuyên rừng”, “Tuyển tập truyện ngắn”.

Linh cữu nhà văn Lê Văn Thảo quàn tại nhà riêng. Lễ viếng lúc 11 giờ ngày 21-10. Lễ truy điệu lúc 6 giờ ngày 23-10, sau đó an táng tại Nghĩa trang TP HCM.

T.Hiệp

Lê Minh Quốc