QĐND - Mặc dù hằng năm, số lượng lao động Việt Nam sang làm việc tại thị trường Nhật Bản không nhiều, nhưng lao động Việt Nam luôn được đánh giá cao. Năm 2011, theo nhận định của một số doanh nghiệp khai thác thị trường Nhật Bản và các chuyên gia trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, thì đây đang là thời điểm thuận lợi cho tu nghiệp sinh Việt Nam tại Nhật. Trước hết, do Việt Nam và Nhật Bản đã xây dựng, phát triển mối quan hệ hữu nghị, hợp tác rất gắn bó và toàn diện. Tiếp đến, quan hệ hai nước đã đạt đến đỉnh cao, trở thành “đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh châu Á”. Hợp tác giữa Bộ LĐTB và XH với Tổ chức hợp tác đào tạo quốc tế Nhật Bản (JITCO) đã giúp đào tạo tay nghề, phương pháp làm việc cho một bộ phận thanh niên của Việt Nam, góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Tại Hội thảo Xúc tiến việc đưa thực tập sinh kỹ thuật Việt Nam sang Nhật Bản do Cục Quản lý lao động ngoài nước và JITCO tổ chức ngày 19-1, Phó chủ tịch phụ trách Hợp tác quốc tế của JITCO Kensuke Tsuzuki khẳng định: Tu nghiệp sinh Việt Nam đang được đánh giá cao tại Nhật Bản. Bằng chứng là những năm gần đây, nhiều doanh nghiệp, các cơ quan tiếp nhận của Nhật Bản đã chú ý nhiều hơn đến tu nghiệp sinh Việt Nam. Hiện Việt Nam có khoảng 35.000 tu nghiệp sinh đang học tập và làm việc tại Nhật, đang là nước có số lượng lớn thứ hai trong tổng số 14 nước có tu nghiệp sinh làm việc tại Nhật Bản (sau Trung Quốc). Đặc biệt, năm 2010, số lượng tu nghiệp sinh Việt Nam tăng 25% so với năm 2009. Năm 2011, hai bên sẽ tăng cường các kế hoạch hợp tác để tăng số lượng tu nghiệp sinh Việt Nam. Ông Doãn Mậu Diệp, Thứ trưởng Bộ LĐTB và XH cho biết, từ khi Việt Nam triển khai đưa tu nghiệp sinh sang Nhật (1992) đến nay, đã có 35.000 tu nghiệp sinh đang học tập và làm việc tại Nhật Bản. Số lượng tu nghiệp sinh ngày càng tăng, gần đây lên tới 4000 người/năm. Số lượng kỹ sư và lao động Việt Nam sang tu nghiệp và thực tập tại Nhật Bản theo diện công ty mẹ-công ty con cũng gia tăng. Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp khẳng định, ngoài sự cần cù, chăm chỉ, nhanh nhạy và khéo léo của bản thân lao động và mối quan hệ hữu nghị, hợp tác gắn bó toàn diện giữa hai nước đã tạo nhiều cơ hội cho người lao động Việt Nam. Bên cạnh đó, khi Luật Quản lý xuất nhập cảnh và Công nhận tỵ nạn của Nhật Bản có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2010, có điều chỉnh một số nội dung có lợi hơn cho tu nghiệp sinh. Theo luật này, tu nghiệp sinh được công nhận tư cách lao động, ký hợp đồng lao động và làm thêm giờ ngay trong năm đầu tiên, cũng có nghĩa là có điều kiện để tăng thu nhập. Nhờ đó, số lượng tu nghiệp sinh Việt Nam sang Nhật Bản làm việc ngày càng tăng. Ngoài ra, việc bỏ thu tiền đặt cọc mà các doanh nghiệp Việt Nam vẫn áp dụng với lao động được coi là thay đổi lớn khi khoản thu này đã từng là gánh nặng về kinh tế đối với người lao động. Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTB và XH) cho rằng, các doanh nghiệp dịch vụ trong nước cần có sự liên kết với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam để có thể có những vị trí công việc phù hợp với tu nghiệp sinh sau khi về nước, tránh lãng phí nguồn nhân lực đã qua đào tạo chất lượng. Hội thảo là dịp để các cơ quan và tổ chức tiếp nhận của Nhật Bản hiểu thêm về chính sách của Việt Nam trong việc hỗ trợ tu nghiệp sinh hồi hương sau khi kết thúc thời gian tu nghiệp tại Nhật Bản, cũng như thực tế thực hiện của các doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời thảo luận những thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng quy định mới của Nhật Bản trong công tác đưa thực tập sinh kỹ thuật Việt Nam sang Nhật Bản. Hội thảo cũng thống nhất cần làm tốt hơn nữa công tác bố trí, tư vấn việc làm cho tu nghiệp sinh khi hết hạn hợp đồng về nước. Vì bố trí được việc làm cho tu nghiệp sinh sau khi về nước chính là một trong những biện pháp tích cực nhằm giảm số lượng tu nghiệp sinh bỏ hợp đồng ra ngoài bất hợp pháp. Lan Hương