Thời điểm này, khắp các khu phố, ở Hố Nai, các xưởng mộc sáng đèn từ sáng sớm đến tận đêm khuya để chuẩn bị cho kịp đơn hàng mùa Tết. Nhiều cơ sở đã thông báo ngừng nhận đơn hàng cho đến ra Giêng.

Hố Nai, Tân Biên, Tân Hòa, trước đây người dân gọi chung là Hố Nai. Hố Nai được mệnh danh là “Vương quốc gỗ” bởi ở đây có nhiều gia đình, nhiều cơ sở làm nghề mộc. Nghề mộc theo những người di cư vào đây từ trước giải phóng.

Cũng có lúc nghề thủ công này tưởng như bị mai một, nhưng bằng tình yêu, sự gắn bó với nghề, những hộ gia đình đã gìn giữ và phát triển thành làng nghề. Từ những sản phẩm truyền thống như giường, tủ, bàn ghế, những thợ mộc đã sáng tạo ra nhiều vật dụng mỹ nghệ độc đáo như: thuyền buồm, xe cộ, đồ gia dụng hoặc lưu niệm đáp ứng nhu cầu khách trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.

Mùa làm ăn của làng nghề

Từ tháng 9 âm lịch trở đi là mùa làm ăn của “làng mộc”. Dọc tuyến quốc lộ 1A từ cầu Sập, phường Tân Biên, qua Tân Hòa đến Hố Nai, đâu đâu cũng có tiếng máy mài, máy cưa và mùi thơm của gỗ, của nước sơn. Người dân nơi đây quen với tên gọi truyền thống là “làng mộc Hố Nai” chứ ít khi sử dụng tên phố, tên phường. Cách đường quốc lộ khoảng vài chục mét, các sản phẩm từ gỗ như: bàn ghế, giường tủ, đồ trang trí với đầy đủ chủng loại, kích thước, kiểu dáng được chất cao hai bên đường dẫn vào làng.

'Lang moc' lai vao mua - Anh 1

Các cơ sở sản xuất đồ gỗ đắt hàng vào dịp cuối năm

Những người cao niên trong làng kể lại, nhờ nghề mộc, những người di cư ít phải mua sắm các vật dụng gia đình. Khi đã đủ đầy, họ lại làm ra sản phẩm đi bán khắp mọi nơi.

Cuộc sống của họ dần ổn định, rồi khấm khá lên. Làng nghề cũng nhờ đó mà hình thành, tồn tại và phát triển bền vững đến nay. Thời kỳ hưng thịnh nhất của làng mộc là khoảng cuối thập niên 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước.

Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 1995 tỉnh Đồng Nai có 723 cơ sở mộc tư nhân sản xuất các đồ mộc gia dụng với 2.982 lao động, số gỗ dùng để sản xuất trên 6.587m3. Riêng phường Tân Hòa có 402 cơ sở, với 1.610 lao động. Do nhiều nguyên nhân, số cơ sở nhỏ lẻ, hộ gia đình, thợ làm mộc có phần giảm. Đến nay, cả 3 phường có khoảng 500 cơ sở lớn, nhỏ và hộ gia đình làm mộc.

Mỗi cơ sở chuyên sâu một vài mặt hàng thay vì sản xuất đại trà như trước. Sản phẩm mộc độc đáo, thị trường tiêu thụ ổn định đã góp phần giải quyết việc làm cho hàng ngàn người với thu nhập bình quân từ 6 - 10 triệu đồng/người/tháng, tùy theo tay nghề của từng thợ.

Ngoài số khách hàng trực tiếp đến tận nơi mua, sản phẩm của làng chủ yếu theo đường bộ, đường thủy đi các tỉnh miền Tây, miền Trung, Tây Nguyên và TP. Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Thời điểm trước Tết chừng 4 tháng, nhiều xưởng phải tuyển thêm thợ, tăng ca đến tận khuya mới kịp giao hàng cho khách. Anh Nguyễn Văn Trung, 42 tuổi, cơ sở mộc Thành Minh Khang, khu phố 3, phường Tân Hòa cho biết, thị trường Tết chuộng nhất là các sản phẩm trưng bày trong nhà như: tủ ly, tủ thờ, tủ bếp và bàn ghế các loại.

Chính vì vậy thời điểm trước tết khoảng 4 tháng, ngoài tuyển thêm thợ, anh đã liên hệ đặt hàng thêm 10 xưởng khác ở địa phương để đảm bảo đa dạng nguồn cung cho khách. “Sản phẩm mộc ngày nay bán khỏe lắm, không phải bán dạo như xưa. Ngoài những mối quen, các cơ sở đều biết cách PR, quảng bá cho sản phẩm của mình thông qua mở showroom trưng bày sản phẩm ngay tại nơi sản xuất, lập trang web giới thiệu sản phẩm, tham gia các hội chợ hoặc làm catalogue truyền thông điệp đến khách hàng. Họ cũng tận dụng mạng xã hội như Zalo, Facebook quảng bá.

Khách hàng chỉ cần đến xưởng xem sản phẩm lần đầu, những lần sau chỉ cần thông tin qua điện thoại mẫu mã, kích thước, số lượng, hàng sẽ được chuyển đến tận nơi”, anh Trung cho biết. Chỉ tính riêng mặt hàng bàn ghế, trung bình mỗi ngày kho của anh Trung xuất ra 2 xe (khoảng 20 bộ), đến tháng 11 - 12 âm lịch có thể tăng lên 4 - 5 xe/ngày.

Thời điểm này, nhiều cơ sở đã nhận đơn hàng tăng gấp đôi, thậm chí gấp 3 so với đầu năm; có nơi không tuyển được thợ phải dời đơn hàng lại qua Tết hoặc từ chối khách. Anh Lê Hiểu Hải, 34 tuổi, chủ một xưởng mộc khu phố 3, phường Tân Hòa cho biết, khoảng hai tuần nay, các mặt hàng như: bàn ghế, tủ quần áo, tủ trưng bày, tủ thờ, giường… bắt đầu hút hàng cả khách sỉ lẫn khách lẻ. Vì thế xưởng của anh phải cho thợ làm hết công suất, mỗi thợ phải đảm bảo tối thiểu 7 công/tuần và mỗi ngày còn tăng ca thêm 3 tiếng. Cũng theo anh Hải, cuối năm tất cả các xưởng đều tăng đơn hàng như nhau nên khó tuyển thợ, thêm vào đó, những thợ lành nghề họ rất ít nhảy việc. Do vậy anh phải từ chối nhiều đơn hàng lẻ.

Trẻ hóa làng nghề

Đến làng mộc Hố Nai hôm nay ít thấy hình ảnh của những cụ ông, cụ bà lớn tuổi ngồi đục đẽo như trước. Thay vào đó là những thanh niên trai tráng còn rất trẻ. Họ là thế hệ thứ 2, thứ 3 nối tiếp làng nghề. Có người là thợ, nhưng cũng có không ít trong số đó đã trở thành chủ xưởng với thu nhập “khủng” hàng năm.

Anh Vũ Văn Tâm, 19 tuổi, hiện đang làm tại xưởng cho một showroom trên đường Phùng Khắc Khoan, khu phố 2, phường Tân Hòa, cho biết, bản thân cũng như nhiều người khác trong làng gắn bó với nghề từ khi còn rất nhỏ và học nghề qua cha mẹ, ông bà. Ban đầu chỉ là phụ cha mẹ chà nhám, đánh bóng. Lâu dần thành quen, lớn lên và gắn bó với nghề luôn.

Đến năm 16 tuổi, Tâm trở thành thợ chính với công việc sửa sang lại những sản phẩm không may bị gãy, bị trầy do vận chuyển, những sản phẩm gỗ bị nứt. “Công việc không nặng nhọc, vất vả như những thợ đứng máy cưa, máy cắt, nhưng đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mẩn đến từng chi tiết. Một bộ bàn ghế có giá hàng trăm triệu, nếu chỉ vì một lỗi nhỏ mà không được xử lý khéo léo có thể chỉ bán được bằng một nửa, một phần ba số tiền thôi”, anh chia sẻ.

Cũng là một người trẻ gắn bó với làng mộc Hố Nai, hiện Vũ Văn Nhật, 20 tuổi, quê gốc Phú Xuyên, Hà Nội đã là chủ cơ sở Vũ Nhật. Năm 17 tuổi, Nhật theo những chuyến hàng nội thất của anh trai từ Bắc vào TP. Hồ Chí Minh tiêu thụ.

Sau đó, thấy Đồng Nai có những làng mộc nổi tiếng với chất lượng sản phẩm, mẫu mã không thua kém hàng Bắc nên anh quyết định mở một cửa hàng ngay tại phường Tân Hòa. “Tôi chọn Tân Hòa, vì muốn được sống trong làng nghề, được gần gũi với các chủ xưởng, những người thợ. Ở đây tôi cũng dễ tiếp cận với khách hàng”, anh nói. Hiện anh đã đặt mối được với 4 cơ sở, 7 hộ gia đình và thuê thêm 3 lao động làm việc cho mình. Năm 2015, sau khi trừ mọi chi phí, anh thu lời được 700 triệu đồng.

“Người trẻ cũng có thể thành công với kinh doanh nghề truyền thống. Tuy nhiên phải biết nắm lấy thời cơ và thị trường”, anh Nhật nhận định. Theo anh, các mặt hàng nội thất sản xuất tại làng mộc ở đây đã có nhiều đổi thay để phù hợp với nhu cầu của thị trường. Ví dụ như bộ salon, người ta không còn chạm trổ cầu kỳ như trước, thay vào đó họ tạo ra những bộ bàn ghế với thiết kế đơn giản, giữ nguyên được khối gỗ tự nhiên và hoa văn có sẵn trên đó… “Xu hướng ngày nay là những đồ vật trong gia đình càng “mộc mạc”, càng thiên nhiên càng hút khách.

Vì vậy, các cơ sở luôn phải đổi mới, sáng tạo không ngừng để làng nghề tồn tại và những thợ mộc mới giàu lên được”.

Theo LĐĐN