Câu hỏi:

Ba má tôi có 10 người con, 6 người đang ở nước ngoài và 4 người đang ở tại Việt Nam. Ba tôi qua đời năm 1990 và má qua đời năm 2011. Trước năm 1990, vì hoàn cảnh đất nước, ba má tôi quyết định chia tài sản, đất đai cho 4 người con ở lại Việt Nam để họ đứng tên thay thế cho các người ở nước ngoài và họ đều có sổ đỏ cho miếng đất của mình. Sau này ba má tôi có để lại di chúc bằng thu hình là đất này chia làm 10, chứ không chia cho 4.

Vậy làm cách nào để các con ở nước ngoài có thể nhận được quyền thừa hưởng?

Kính gửi: Quý bạn đọc

Thứ nhất: Về mặt hình thức của di chúc, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 có quy định như sau:

Điều 649. Hình thức của di chúc

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Người thuộc dân tộc thiểu số có quyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.

Điều 650. Di chúc bằng văn bản

Di chúc bằng văn bản bao gồm:

1. Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;

2. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;

3. Di chúc bằng văn bản có công chứng;

4. Di chúc bằng văn bản có chứng thực.

Điều 651. Di chúc miệng

1. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

2. Sau ba tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.

Điều 652. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực.

Như vậy với việc Ba Má bạn để lại di chúc bằng hình thức băng ghi hình là không phù hợp với pháp luật Việt Nam. Do đó, di chúc này sẽ không có hiệu lực pháp luật và sẽ không được dùng làm căn cứ để phân chia thừa kế cho 10 người con.

Thứ hai: Về các thửa đất mà Ba Mẹ bạn đã cho 4 người con ở lại Việt Nam và đã thực hiện hoàn tất việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1990. Do đó, việc yêu cầu phân chia lại thừa kế đối với những thửa đất này chỉ có thể thực hiện được thông qua biện pháp thương lượng với những người đang có quyền sử dụng hợp pháp đối với các thửa đất đó. Nếu dùng biện pháp pháp lý thì khả năng đạt được mong muốn của bạn là rất thấp.

***

Trân trọng.

Chuyên mục Café Luật

DiaOcOnline.vn mong muốn trở thành cầu nối cho bạn đọc với các chuyên gia trong từng lĩnh vực địa ốc. Hiện nay, qua DiaOcOnline.vn, bạn có thể kết nối với các chuyên gia trong lĩnh vực kiến trúc, pháp lý nhà đất, phong thủy nhà đất.

Nếu có nhu cầu được tư vấn về kiến trúc, pháp lý, phong thủy trong lĩnh vực nhà đất, bạn hãy click ngay vào đây để tìm hiểu về nhà tư vấn và gửi câu hỏi. Chúng tôi sẽ liên hệ với chuyên gia và đưa ra câu trả lời cho bạn trong thời gian sớm nhất.

DiaOcOnline.vn