Để nhập trót lọt hàng cấm, hàng NK có điều kiện, một số đối tượng đã làm giả hồ sơ nhằm qua mặt cơ quan chức năng. Song, vụ việc đã bị cơ quan Hải quan phát hiện và khởi tố vụ án hình sự.

Lam gia ho so nhap khau hang cam - Anh 1

Hàng điện lạnh đã qua sử dụng bị phát hiện tại cảng Cát Lái. Ảnh: T.H.

Nhập khẩu hàng cấm

Cuối năm 2015, Công ty TNHH Doanh Gia đứng tên mở tờ khai hải quan tại Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn khu vực 1 NK 1 container hàng gồm: Máy pha cà phê, xe đạp đua, bộ loa thùng nghe nhạc, máy phát điện xoay chiều 3 pha.

Phát hiện có dấu hiệu nghi vấn, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 đã phối hợp với Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về buôn lậu (C74)- Bộ Công an kiểm tra, phát hiện phần lớn hàng hóa chứa trong container này là hàng điện tử đã qua sử dụng, thực phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng… thuộc danh mục hàng cấm nhập khẩu và hàng nhập khẩu có điều kiện theo quy định tại Nghị định 187/NĐ-CP của Chính phủ.

Sau khi container đầu tiên bị phát hiện vi phạm, Công ty TNHH Doanh Gia còn 1 container tương tự đã cập cảng Cát Lái, công ty đã nhận lệnh giao hàng, nhưng không thực hiện mở tờ khai hải quan để làm thủ tục nhận hàng. Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 tiếp tục phối hợp với C74 thực hiện khám xét container hàng còn lại, phát hiện nhiều mặt hàng chứa trong container này cũng là hàng điện tử đã qua sử dụng, thực phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm chức năng… thuộc hàng cấm nhập khẩu và hàng nhập khẩu có điều kiện.

Cơ quan Hải quan xác định, trị giá 2 lô hàng vi phạm gần 1,5 tỷ đồng. Mới đây, sau khi trao đổi ý kiến với Viện Kiểm sát nhân dân TP.HCM, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Sài Gòn khu vực 1 đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” xảy ra tại cảng Cát Lái, liên quan đến Công ty TNHH Doanh Gia.

Làm giả hồ sơ NK hàng hóa

Mở rộng điều tra vụ việc, cơ quan Hải quan còn phát hiện các đối tượng câu kết với nhau làm giả hồ sơ để hợp thức hóa việc khai báo hải quan, trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của cơ quan Hải quan. Cụ thể, việc NK 2 container hàng nêu trên liên đến ba bên. Công ty TNHH Khang Trinh làm dịch vụ thủ tục hải quan cho Công ty TNHH Doanh Gia, còn Công ty TNHH Doanh Gia nhận làm thuê từ đối tượng tên Trần Đình Viện, tên thường gọi là Trịnh Tuấn Kiệt.

Làm việc với cơ quan Hải quan, ông Nguyễn Viết Thanh, Giám đốc Công ty TNHH Khang Trinh khai nhận, Công ty TNHH Doanh Gia mở tờ khai NK lô hàng nêu trên theo hợp đồng giao nhận giữa Công ty TNHH Khang Trinh và Công ty TNHH Doanh Gia, có trị giá 1,2 tỷ đồng (bao gồm các khoản thuế, phí, vận chuyển…). Số lượng hàng hóa gồm 2 container, mặt hàng NK là xe đạp đua, máy pha cà phê, bộ loa nghe nhạc, quần áo, bánh kẹo,… ông Thanh đã nhận trước 700 triệu đồng.

Theo ông Thanh, trước khi kí hợp đồng thực hiện dịch vụ thủ tục hải quan, ông Phạm Doãn Hậu, Giám đốc Công ty TNHH Doanh Gia cho biết, đã biết trước tất cả mặt hàng thực tế có trong container, nhưng không biết số lượng từng mặt hàng. Ông Thanh cho biết, đã tìm hiểu kĩ các quy định của pháp luật về việc NK các mặt hàng do Công ty TNHH Doanh Gia yêu cầu và biết, việc NK các mặt hàng thực phẩm chức năng, máy móc thiết bị điện tử phải có giấy phép, phải kiểm tra chuyên ngành, nhưng vì không xin được giấy phép nên khi làm thủ tục hải quan chỉ khai báo 4 mặt hàng như nêu trên.

Để hợp thức hóa cho việc khai báo hàng hóa gian dối, ông Nguyễn Viết Thanh đã làm 2 bộ chứng từ NK cho cùng 1 lô hàng. Một bộ chứng từ do Công ty TNHH Doanh Gia cung cấp, một bộ bao gồm Hợp đồng ngoại thương, hóa đơn thương mại, quy cách phiếu đóng gói hàng do ông Thanh soạn lại và tự ký giả chữ kí của đối tác xuất khẩu lô hàng này. Việc làm thêm một bộ chứng từ, ông Thanh có báo lại cho ông Phạm Doãn Hậu biết và được ông Hậu ký trực tiếp xác nhận trên tất cả các chứng từ do ông Thanh soạn thảo lại.

Làm việc với cơ quan Hải quan, ông Phạm Doãn Hậu cũng thừa nhận biết việc ông Thanh chỉnh sửa bộ hồ sơ NK hàng và đưa cho ông kí đóng dấu Công ty Doanh Gia. Tuy nhiên, ông Hậu cho biết, không thanh toán tiền cho người xuất khẩu trên hợp đồng ngoại thương, do thông tin người xuất khẩu trên hợp đồng ông hậu không biết là ai, thông tin này do ông Thanh tự khai để hợp thức hóa hồ sơ NK hàng. Tuy nhiên, ông Phạm Doãn Hậu khai rằng, lô hàng trên do ông Trần Tuấn Kiệt thuê làm. Khi thỏa thuận thuê làm, ông Kiệt có nói hàng hóa trong container là sữa, máy xay cà phê, xe đạp và hàng quà biếu ở Mỹ chuyển về.

Theo khai nhận của ông Trần Tuấn Kiệt, toàn bộ danh sách hàng hóa, vận tải đơn… của lô hàng đã được ông Hậu xem trước và đồng ý làm thủ tục và đã đưa trước cho ông Hậu 760 triệu đồng. Ông Hậu còn yêu cầu ông Kiệt thông báo cho người gửi hàng làm thủ tục thay đổi tên người nhận hàng từ cá nhân sang Công ty TNHH Doanh Gia.

Qua kết quả điều tra, xác minh cho thấy, các đối tượng đều thừa nhận biết hàng hóa cần phải có giấy phép NK, nên đã có sự bàn bạc, trao đổi để khai báo gian dối, làm giả hồ sơ để hợp thức hóa việc khai báo… Hành vi của ông Phạm Doãn Hậu, Giám đốc Công ty TNHH Doanh Gia và các đối tượng có liên quan đã cố ý làm trái các quy định của pháp luật theo quy định tại Điều 153 của Bộ luật Hình sự.

Lê Thu