Tôi dùng sổ đỏ mang tên cha tôi để vay thế chấp nhưng người cho vay cố tình không trả sổ để buộc tôi phải trả gấp 5 lần số tiền vay ban đầu. Tôi có thể khởi kiện người cho vay tiền không?

Tuần qua, Tòa soạn nhận được thư bạn đọc ở phường 15, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung thư, bạn đọc hỏi: “Mẹ tôi do tuổi cao, sức yếu dẫn đến trí nhớ kém, đi lại khó khăn. Do cần tiền gấp để chữa trị bệnh cho mẹ, qua sự giới thiệu của người quen, tôi đã vay một số tiền và gửi thế chấp sổ đỏ mang tên cha tôi. Do biết cha tôi đã qua đời và trong gia đình muốn lập thủ tục phân chia di sản thừa kế nên người cho vay tiền không trả lại sổ nếu tôi không đáp ứng việc trả gấp 5 lần số tiền vay ban đầu. Xin tòa soạn cho biết, tôi có thể khởi kiện người cho vay tiền được không?”

Lam gi khi bi chiem giu giay chung nhan quyen su dung dat? - Anh 1

Trả lời có tính chất tham khảo

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hay còn gọi là sổ đỏ) không phải là tài sản. Căn cứ quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là tiền. Mà đó chỉ là sự xác nhận về quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức, bản thân nó cũng không phải là quyền sử dụng đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không phải là giấy tờ có giá.

Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là căn cứ để xác nhận quyền sử dụng đất của các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức,.... Do đó, hành vi giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác không đủ yếu tố để cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Trong trường hợp hành vi chiếm đoạt đó gây ảnh hưởng đến quyền lợi của bạn đối với quyền sử dụng đất đó thì bạn yêu cầu người đang giữ trả lại giấy tờ. Nếu người này vẫn không trả thì bạn có thể yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp lại giấy chứng nhận do bị mất theo quy định tại Điều 77 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/4/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, cụ thể:

1. Hộ gia đình và cá nhân, cộng đồng dân cư phải khai báo với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất về việc bị mất giấy chứng nhận, Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, trừ trường hợp mất giấy do thiên tai, hỏa hoạn.

2. Sau 30 ngày, kể từ ngày niêm yết thông báo mất giấy chứng nhận tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư hoặc kể từ ngày đăng tin lần đầu trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương đối với trường hợp của tổ chức trong nước, cơ sở tôn giáo, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người bị mất Giấy chứng nhận nộp 01 (một) bộ hồ sơ đề nghị cấp lại Giấy chứng nhận.

3. Văn phòng Đăng ký Đất đai có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ; trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với trường hợp chưa có bản đồ địa chính và chưa trích đo địa chính thửa đất; lập hồ sơ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 37 của Nghị định này ký quyết định hủy Giấy chứng nhận bị mất, đồng thời ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; …”.

Hành vi dùng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) để ép người khác phải đưa tiền hoặc tài sản có thể bị coi là hành vi dùng thủ đoạn uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Hình sự.

Luật gia Đỗ Minh Chánh/KD&PL