Doanh nghiệp (DN) vẫn khó có cơ hội vay lãi suất rẻ để sản xuất, kinh doanh. Thậm chí, có những khoản vay cũ trung dài hạn, lãi suất vẫn đứng ở mức trên 13%/năm.

Đọc E-paper

Theo phản ánh, lãi suất cho vay trung dài hạn tại Việt Nam cao gấp 2 lần so với các nước trong khu vực, khiến DN Việt Nam khó cạnh tranh nổi với hàng hóa nhập khẩu tràn vào theo các hiệp định thương mại tự do sắp tới.

Đại diện của Hiệp hội DN TP.HCM cho biết, hiện mức lãi suất trung dài hạn mà các DN vừa và nhỏ đang phải vay là 12-14%/năm, trong khi DN các nước trong khu vực như Thái Lan vay đầu tư chỉ 5%-6%/năm... Năm 2015, Việt Nam tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), theo đó, sẽ giảm thuế suất nhập khẩu hàng hóa dần về 0%.

Lúc này, hàng từ Bangkok về TP.HCM cũng tương đương hàng ở Hà Nội chuyển vào! Bên cạnh đó, hầu hết máy móc, thiết bị của DN Việt Nam hiện nay nhập từ Trung Quốc nên chất lượng sản phẩm sẽ khó cạnh tranh được với hàng ngoại. Nếu đổi mới máy móc, công nghệ hiện đại thì vốn đầu tư ở đâu, vay với lãi suất bao nhiêu?

Trả lời một phần câu hỏi này, lãnh đạo của NamA Bank chia sẻ, tăng trưởng tín dụng năm nay dự kiến sẽ được cải thiện so với năm trước, song cũng còn những khó khăn nhất định. Đáng chú ý là kể từ tháng 6/2014, nếu Thông tư 02 không được hoãn và sẽ áp đúng như dự kiến sẽ phần nào cản dòng chảy tín dụng, do các quy định phân loại nợ cũng như trích lập dự phòng cao hơn.

Mặt khác, trong bối cảnh thị trường hiện nay, DN cũng chưa mặn mà vay vốn mở rộng sản xuất, kinh doanh, vì hàng hóa chưa khơi thông khi sức mua của thị trường sau Tết chững lại.

Tuy nhiên, điều khiến các NH lo lắng nhất vẫn là kiểm soát rủi ro nợ khó đòi nên nhiều NH không chạy đua với tăng trưởng tín dụng, thay vào đó là kiểm soát được chất lượng khoản vay.

Vì vậy, dù thanh khoản dôi dư và NH rất cần mở rộng thị phần tín dụng, song vốn cũng chỉ tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên, nhất là nông nghiệp, xuất nhập khẩu, DN có nhu cầu đổi mới công nghệ, công nghệ cao...

Lãnh đạo của Sacombank giải thích, trong bối cảnh hiện nay, để kiểm soát được nợ xấu đòi hỏi phải sàng lọc khách hàng. Nhưng quan trọng hơn là vốn phải được sử dụng đúng mục đích thì hiệu quả mới như mong đợi. Vì kiểm soát được dòng vốn không dễ do nhiều DN vay vốn không đúng với mục đích ban đầu khi ký hợp đồng giải ngân.

Đó cũng chính là lý do để Sacombank cũng như nhiều NH khác tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên và giảm lãi suất cho vay đối với những DN cần vốn đổi mới công nghệ. Lãi suất cho DN vay vốn sử dụng mục đích này tại Sacombank hiện dao động 9 - 11%/năm...

Nhìn chung, để hạn chế nợ xấu, nhiều NH thường đưa ra mức lãi suất cho vay hấp dẫn chỉ trong 6-12 tháng đầu, sau đó sẽ thả nổi theo thị trường nên DN không dám mạnh dạn vay. Tuy nhiên, giới chuyên môn đánh giá rằng, các NH dù khó khăn nhưng sẽ giảm thêm lãi suất để cải thiện tình hình chung.

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, nếu thực hiện tốt, việc hạ lãi suất sẽ giúp các bên có liên quan phát triển toàn diện. Cụ thể, NH giảm lãi suất sẽ dễ cho vay hơn, nhu cầu vốn tăng lên thì tăng trưởng tín dụng cao.

Việc này sẽ giúp NH tăng cơ hội sẽ giảm được nợ xấu. Ngược lại, nếu được vay lãi suất thấp sẽ giúp DN tăng sức cạnh tranh, từ đó thúc đẩy doanh số bán hàng, tăng lợi nhuận và trả nợ cho NH. Đối với nền kinh tế, GDP từ đó cũng tăng trưởng, tạo điều kiện tốt hơn cho an sinh xã hội.

Cơ sở để kéo giảm được lãi suất, theo TS. Nguyễn Minh Phong, tính khả thi của việc giảm lãi suất sẽ cao. Thực tế, mặt bằng trần lãi suất huy động 5%, cho vay 13% thì chênh lệch rất cao. Việc này cho phép NH giảm bớt lãi suất cho vay, kéo chênh lệch xuống 2 - 3%.

"Việc huy động đang rất thuận lợi cùng với nhu cầu vay đang rất cao nên việc giảm lãi suất là tốt. Ngoài ra, các NH đang cạnh tranh rất lớn, nên chuyện giảm lãi suất cho vay là điều cần thiết. Tuy nhiên, khả thi đến đâu cần dựa vào hiệu ứng pháp lý và khả năng chịu đựng tự giác của NH", TS. Phong nói.

Cùng quan điểm, TS. Trần Du Lịch cho rằng, kinh tế nói chung và thị trường tài chính hiện đã đi vào ổn định nhiều hơn so với giai đoạn vừa qua. Nhưng một số ngành, lĩnh vực còn trì trệ và còn phải chờ đón sự phát triển trở lại trong nhiều năm nữa.

Vì thế, nguồn vốn giá rẻ không nên chỉ tập trung vào những lĩnh vực ưu tiên, mà cần mở rộng thêm với những DN có phương án kinh doanh phù hợp và tính khả thi của dự án cao sẽ không lo thiếu vốn để mở rộng đầu tư, sản xuất.

Hiện nay, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên ở mức 7%/năm, trung dài hạn từ 9 - 10%/năm, còn các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thông thường từ 7 - 9%/năm cho ngắn hạn, trong khi cho vay trung dài hạn lãi suất là 9,5 - 11%/năm.

Trong Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện chính sách tiền tệ và bảo đảm hoạt động NH an toàn, hiệu quả năm 2015, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ chức tín dụng duy trì ổn định mặt bằng lãi suất, phấn đấu tiếp tục hạ thêm lãi suất cho vay trung dài hạn từ 1 - 1,5%/năm và hỗ trợ thị trường tài chính trong huy động vốn cho đầu tư phát triển.

Các NH thương mại cần tạo điều kiện thuận lợi cho DN, hợp tác xã và hộ gia đình tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh...

Tại cuộc họp triển khai nhiệm vụ ngành NH trên địa bàn TP.HCM mới đây, Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Hồng cũng nói rằng, trong 2 năm qua, lãi suất đã giảm nhưng vẫn cần giảm thêm lãi suất trung và dài hạn để DN có cơ hội mở rộng sản xuất, kinh doanh, đầu tư máy móc, công nghệ...

> Nhu cầu nhân lực của ngân hàng tăng mạnh
> Lãi suất “nhảy múa”: lợi ngắn, hại dài
> Lẳng lặng tăng lãi suất huy động
> Giảm áp lực cho lãi suất tiền đồng

VŨ LINH