Trong phiên tòa xét xử vụ tranh chấp hợp đồng chuyển QSDĐ tại Kon Tum, chủ tọa phiên tòa đã yêu cầu PV không được phép ghi chép và có ý "né" giải thích lý do...

Trong bài: “Kon Tum: Tranh chấp hợp đồng chuyển QSDĐ - Bó tay chấm com” đã phản ánh, tại phiên tòa, thẩm phán, chủ tọa phiên tòa này còn tuyên bố giõng giạc: “Ở đây chỉ được thư ký mới được ghi chép, nếu ai muốn ghi chép phải được chủ tọa phiên tòa cho phép, nếu không yêu cầu công an bảo vệ phiên tòa đưa ra khỏi phòng xử án”. PV ngạc nhiên hỏi lại chủ Tọa phiên tòa, nhưng chủ tọa không trả lời.

Sau khi phiên tòa sơ thẩm khép lại, PV không hiểu thẩm phán, chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Tuấn căn cứ vào điều luật nào qui định mà tại tòa tuyên bố như vậy? Hôm sau PV quay lại TAND huyện Sa Thầy vào phòng thư ký xin lại giấy giới thiệu và hỏi cho rõ, hy vọng thêm “phần” hiểu biết. Thư ký cho biết Chủ tọa phiên tòa đang giữ. Vào phòng chủ tọa, tại đây, PV đã đặt vấn đề làm việc.

Chủ tọa cho hay: “Vụ án đã được giải quyết xong rồi còn gì nữa?”.

“Thưa chủ tọa, còn một câu hỏi chủ tọa chưa trả lời, tôi không biết nên hôm nay đến hỏi cho rõ, hay phải báo cáo với Chánh án trước?”, PV đáp.

“Ừ, phải làm việc với Chánh án”, thẩm phán trả lời.

Sau đó, PV xin phép đến phòng Chánh án trình bày lý do. Chánh án vui vẻ, mời ra phòng tiếp khách, và gọi chủ tọa phiên tòa ra giao nhiệm vụ. Chủ tọa đến, PV đặt vấn đề luôn, đồng thời bật máy ghi âm để trên bàn. Thấy vậy, thẩm phán không nói một lời mà “chỉ” vào máy ghi âm. Hiểu ý của thẩm phán, PV trả lời: Pháp luật quy định khi tác nghiệp PV được quyền ghi âm, chụp hình. Thấy vậy, thẩm phán không nói gì, bỏ lại PV một mình, chưa kịp xin lại giấy giới thiệu.

Kon Tum: Lay dat cua nguoi khac ban, Toa cho la dung? - Anh 1

Đợi mãi không thấy thẩm phán đâu, PV xuống tầng dưới tìm không thấy. PV đành đến gặp thư ký để hỏi. Vị thư ký cho biết, thẩm phán “về rồi”. Xem đồng hồ, lúc này mới 14h30 phút, PV thất thiểu ra về. Hôm sau, PV điện thoại cho thẩm phán, thẩm phán nghe máy và hỏi ai đó. PV giới thiệu về mình và đặt vấn đề. Thẩm phán cho biết đang bận và cúp máy. Sau đó PV điện thoại nhiều lần nữa cũng không được. PV phải điện cho thư ký hỏi xin lại giấy giới thiệu, thư ký cho biết đã hỏi thẩm phán, nhưng thẩm phán cho hay để lưu hồ sơ. Không hiểu điều luật nào quy định thẩm phán giữ giấy giới thiệu của PV để lưu hồ sơ không trả?

Luật chưa có hiệu lực vẫn... áp dụng

Quay lại vấn đề đã đề cập từ kỳ trước, theo giấy xin xác nhận nguồn gốc đất đề ngày 17/8/2004 và đơn xin xác nhận quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Cúc đề ngày 24/8/2016, thì thửa đất mà bấy lâu nay ông Dương Minh Ánh tranh chấp có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân(UBND) huyện Sa Thầy cấp cho vợ chồng ông Trần Văn lượng và bà Nguyễn Thị Cúc năm 1976. Chính quyền từ thôn, UBND thị trấn đến UBND huyện và mọi người dân đi kinh tế mới lúc bấy giờ đều biết.

Năm 2004, vợ chồng ông Lượng lập giấy tờ tặng cho con trai là anh Trần Ngọc Luân thửa đất này. Thôn trưởng thôn 2 xác nhận ngày 22/6/2004, UBND thị trấn Sa Thầy ký xác nhận. Sau đó, ông Dương Minh Ánh (thôn 1, thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy) đến căm cọc rào, bị gia đình ông Lượng ngăn cản. Ông Ánh cho biết, vợ chồng ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Nguyễn Thị Nga (thôn 2, thị trấn Sa Thầy, huyện Sa Thầy - hiện trú tại thôn Nghĩa Long, xã Sa Nghĩa, huyện Sa Thầy), bán cho ông Ánh, theo giấy sang nhượng đất viết tay ngày 30/6/2003, có xác nhận của thôn trưởng thôn 2 và UBND thị trấn Sa Thầy. Lúc này, gia đình ông Lượng mới biết năm 2003 vợ chồng ông Hùng bán thửa đất của gia đình mình cho ông Dương Minh Ánh.

Điều kỳ lạ, vợ chồng ông Hùng bán đất cho ông Ánh, đất không có bất cứ giấy tờ gì để chứng minh nguồn gốc thửa đất, UBND thị trấn cũng ký xác nhận? Vợ chồng ông Lượng tặng cho con thửa đất này UBND thị trấn cũng ký xác nhận. Vì sao cùng một thửa đất, ai là người ở UBND thị trấn Sa Thầy ký xác nhận? Một trong những quy định không được chuyển quyền sử dụng đất(QSDĐ) tại Điều 30 Luật Đất đai năm 1993, là “Đất sử dụng không có giấy tờ hợp pháp”. Chính vì UBND thị trấn Sa Thầy “ai cũng ký xác nhận” không theo qui định của pháp luật, dẫn đến tranh chấp đất đai, khiếu nại từ đó.Do vợ chồng ông Hùng không có bất cứ giấy tờ gì về QSDĐ, mà bán cho ông Ánh, các cấp chính quyền không có căn cứ để giải quyết.

Khiếu nại không thành, ngày 10/12/2015 ông Ánh khởi kiện ông Trần Văn Lượng ra TAND huyện Sa Thầy, yêu cầu tòa án buộc ông Lượng giao lại thửa đất đã mua của vợ chồng ông Hùng. Thẩm phán Nguyễn Văn Tuấn được phân, đã thụ lý số 30/2015/TLST-DS ngày 11/12/2015, về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Ngày 28/12/2015,ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 10/2015/QĐST-DS.

Kiện ông Lượng không được, ngày 07/7/2016 ông Ánh tiếp tục khởi kiện vợ chồng ông Nguyễn Xuân Hùng và bà Nguyễn Thị Nga đòi đất theo giấy sang nhượng đất viết tay ngày 30/6/2003. Còn ông Lượng, ông Ánh yêu cầu “phải thực hiện đúng việc sang nhượng đất với vợ chồng ông Hùng, để tạo điều kiện thuận lợi cho ông Ánh”. Lần này, TAND huyện Sa Thầy cũng phân công thẩm phán Nguyễn Văn Tuấn tiếp tục giải quyết vụ án. Thẩm phán thụ lý số 21/2016/TLST-DS ngày 11/7/2016, về “Tranh chấp hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất”. Vụ án đưa ra xét xử ngày 12/10/2016 chủ tọa phiên Tòa, thẩm phán Nguyễn Văn Tuấn, TAND huyện Sa Thầy.

Tại phiên Tòa, ông Ánh cũng như ông Hùng không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giữa ông Trần Văn Lượng với vợ chồng ông Hùng có việc sang nhượng QSDĐ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Sa Thầy xét thấy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Nguyễn Xuân Hùng, bà Nguyễn Thị Nga với ông Dương Minh Ánh đã vi phạm các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều 131 Điều 707 Bộ luật dân sự 1995; Điều 30, Điều 31 Luật đất đai 1993. Vị đại diện Viên kiểm sát Căn cứ Điều 122, 137 Bộ luật dân sự 2005 đề nghị HĐXX:

- Bác đơn khởi kiện của ông Dương Minh Ánh đề ngày 07/7/2016.

- Tuyên bố hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất lập ngày 30/6/2003 giữa ông Nguyễn Xuân Hùng bà Nguyễn Thị Nga với ông Dương Minh Ánh vô hiệu. Buộc ông Nguyễn Xuân Hùng bà Nguyễn Thị Nga phải giao lại cho ông Dương Minh Ánh số tiền sang nhượng đất là 43.500.000 đồng.

- Buộc ông Dương Minh Ánh phải giao lại toàn bộ diện tích đất nhận sang nhượng cho ông Nguyễn Xuân Hùng bà Nguyễn Thị Nga.

- Xác định lỗi của các bên, bên nào có lỗi làm cho hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất vô hiệu phải bồi thường thiệt hại.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật TTDS 2015 và pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009 ông Dương Minh Ánh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Thế nhưng, tại bản án số 03/2016/DS-ST ngày 18/10/2016 TAND huyện Sa Thầy căn cứ Điều 100, 105 và 203 Luật Đất đai năm 2003 và các Điều 388, 389, 491, 404 và 405 Bộ luật dân sự năm 2005, chấp nhận đơn khởi kiện của ông Ánh. Tạm giao thửa đất đang tranh chấp cho ông Ánh. Để ông Ánh liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục đăng ký QSDĐ đối với thửa đất này.

Điều đáng nói, Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 và Bộ luật dân sự năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006. Khi vợ chồng ông Hùng sang nhượng đất cho ông Ánh ngày 30/6/2003, thì hai luật này chưa có hiệu lực thi hành hay nói cách khác chưa có để áp dụng. Luật Đất đai năm 1993 và luật sửa đổi, bổ sung một số điều luật đất đai và Bộ luật dân sự năm 1995 vẫn còn hiệu lực thi hành. Luật chưa có hiệu lực sao TAND huyện Sa Thầy vẫn áp dụng?

Và các điều luật này: Điều 100, 105 và 203 luật đất đai năm 2003 và các Điều 388, 389, 491, 404 và 405 Bộ luật dân sự năm 2005 nói lên điều gì? Tạm giao đất tranh chấp cho ông Ánh, cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào đâu để cấp QSDĐ đất cho ông Ánh? Gia đình ông Lượng không cho thì sao? Hơn nữa, vụ án đưa ra xét xử ngày 12/10/2016, sao ngày 18/10/2016 Tòa này mới ban hành bản án?

Những bất cập, trái pháp luật như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy đã kháng nghị và đương sự kháng cáo toàn bộ Bản án số 03/2016/DS-ST ngày 18/10/2016 của TAND huyện Sa Thầy. Hy vọng cấp phúc thẩm sẽ làm rõ những thiếu sót, vi phạm của cấp sơ thẩm. Để vụ án được giải quyết đúng pháp luật, đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự.

Ý Công/KD&PL