Tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân Kiên Giang.

1. Khái quát về Kiên Giang

Là tỉnh thuộc ĐBSCL, nằm tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc, có địa hình đa dạng như một đất nước Việt Nam thu nhỏ. Kiên Giang có diện tích tự nhiên 634.878 ha, đất nông nghiệp là 570.146 ha; đất trồng lúa 395.460 ha số còn lại là đất trồng cây lâu năm; đất lâm nghiệp; đất nuôi trồng thủy sản. Kiên Giang là tỉnh lớn nhất trong khu vực ĐBSCL.

Kiên Giang có 145 xã, phường, thị trấn trong 15 huyện, thị, thành phố (có 02 huyện đảo và 02 huyện thị biên giới); với 1,762 triệu người vào năm 2015.

Kiên Giang có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, nhất là lĩnh vực nông, ngư nghiệp duy trì ở mức tăng trưởng khá, sản lượng lương thực năm 2015 dạt 4.64 triệu tấn đứng đầu cả nước và khu vực ĐBSCL. Sản lượng khai thác nuôi trồng thủy sản đạt 637.000 tấn năm 2015 tăng 36,7% so với năm 2010.

Kien Giang va moi lo khai thac thuy dien song Mekong - Anh 1

Kiên Giang và mối lo thủy điện sông Mekong. Ảnh minh họa

Bên cạnh những lợi thế, để phát triển kinh tế-xã hội; Kiên Giang là một trong những tỉnh thuộc ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề do hậu quả của việc khai thác thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông trong điều kiện biến đối khí hậu.

Khai thác thủy điện sông Mê Kông: Nguy hại với Việt Nam

2. Tác động của Biến đổi khí hậu - Nước biển dâng và phát triển thủy điện ở thượng lưu đối với Kiên Giang và ĐBSCL

2.1. Biến đối khí hậu và nước biển dâng

2.1.1. Biến đổi khí hậu ở thượng lưu sông MêKông.

Theo nghiên cứu ở tổ chức liên Chính phủ về biến đổi khí hậu, đến năm 2030, trên lưu vực sông MêKông, nhiệt độ trung bình tăng khoảng 0,79 oC, lượng mưa trung bình tăng 200 mm (15,3%), chủ yếu vào mùa mưa. Lượng mưa về mùa khô tăng ở phía Bắc khu vực và giảm ở phía Nam khu vực, đặc biệt gây tác động lên đến phía hạ lưu dòng chính Mê Kông...

2.1.2. Biến đổi khí hậu ở Kiên Giang và đồng bằng Sông Cửu Long.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Việt Nam của Bộ Tài nguyên và môi trường đối với vùng ĐBSCL (trong đó có Kiên Giang), ứng với mức theo kịch bản phát triển trung bình nhiệt độ đến năm 2020 tăng 0,4 oC, năm 2030 tăng 0,6oC; 2050 tăng 1 oC.

"Lượng mưa đến năm 2020 tăng 0,3%, năm 2030 tăng 0,4% và đến năm 2050 tăng 0,8%. Đáng lưu ý lượng mưa trong các tháng đầu mùa khô và đầu mùa mưa (từ tháng 12 năm trước đến tháng 5 năm sau) giảm 5,8% vào năm 2020, 8,5% vào năm 2030 và 15,6% vào năm 2050"1. Như vậy, tuy lượng mưa cả năm có xu thế tăng nhưng lượng mưa đầu mùa mưa giảm là nguy cơ thiếu hụt nước tưới cho sản xuất, vụ Hè Thu, nên, nhu cầu lấy nước từ sông kinh lớn hơn.

2.1.3. Nước biển dâng

Theo từ nhiều nguồn nghiên cứu 50 năm qua, mưc nước trung bình vùng Biển Đông của ĐBSCL tăng lên 12 cm. Theo kịch bản Tài nguyên và Môi trường, ứng với mức theo kịch bản phát thải trung bình, mực nước trung bình Biển Đông vùng ĐBSCL tiếp tục tăng thêm 12 cm vào năm 2020, 17 cm vào năm 2030 và 30 cm vào năm 2050; 75 cm vào năm 2100. Bộ Tài nguyên và Môi trường kiến nghị các ngành và địa phương sử dụng kết quả theo kịch bản này để xây dựng chiến lược ứng phó nước biển dâng (NBD). Tuy nhiên, cần lưu ý trong kịch bản trên, vấn đề quan trọng đối với Kiên Giang và ĐBSCL mà báo cáo chưa đề cập, đó là:

Đối với nước biển dâng, chỉ mới công bố mực nước dâng trung bình, trong khi đỉnh và chân triều mới là vấn đề quan trọng, quyết định hình thức và quy mô công trình ứng phó.

3. Ảnh hưởng của việc khai thác thủy điện ở thượng nguồn sông Mê Kông hiện nay đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường sinh thái ở Kiên Giang và khu vực ĐBSCL.

3.1. Tình hình hạn hán, xâm nhập mặn.

Từ năm 2014 đến nay, do tác động của hiện tượng ElNiNo nên mùa khô kéo dài, mùa mưa tới muộn và kết thúc sớm. Từ đầu năm 2015 dòng chảy ở thượng nguồn sông MêKông bị thiếu hụt, mực nước thấp nhất trong vòng 90 năm qua và không còn khả năng đẩy mặn, dẫn đến tình trạng mặn trên sông đã xuất hiện sớm hơn gần 2 tháng so với cùng kỳ và xâm nhập mặn sâu về phía thượng lưu, nơi xa nhất gần 100 Km.

Theo số liệu quan trắc, độ mặn lớn nhất đều cao hơn so với trung bình nhiều năm và vượt quá độ mặn lớn nhất cùng kỳ đã từng quan trắc được trong lịch sử: ranh giới độ mặn đã lấn sâu tới 90-95 Km trên sông Vàm Cỏ; 45-65 Km trên sông Tiền, 55-60 Km ở khu vực ven biển Tây (sông Cái lớn).