Sản xuất lúa gạo ở nước ta nói chung, vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng có vị trí đặc biệt quan trọng trong Chiến lược bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giữ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Cùng với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Kiên Giang là tỉnh có diện tích đất tự nhiên trên 634.000 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp 439.000 ha, chủ yếu là sản xuất lúa, chiếm gần 78% diện tích đất nông nghiệp. Với đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, sản xuất lúa gạo đã trở thành ngành sản xuất chính và đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế ngành và kinh tế chung của tỉnh. Trong 10 năm qua, bình quân hàng năm, diện tích gieo trồng lúa tăng 1,8%, năng suất tăng 3,75%, sản lượng tăng 5,1%, giá trị sản xuất tăng 6,3%và chiếm tỷ trọng trên 50% tổng giá trị sản xuất nông lâm thủy sản của tỉnh, góp phần đưa tăng trưởng giá trị sản xuất toàn ngành hàng năm đạt 9,4%. Năm 2009, toàn tỉnh Kiên Giang có 340.000 ha đất canh tác lúa, diện tích gieo trồng 621.600 ha, sản lượng đạt gần 3,4 triệu tấn, trong đó tỷ lệ lúa chất lượng cao chiếm 70%. Những mốc quan trọng đánh dấu sự đột phá và phát triển của ngành sản xuất lúa ở tỉnh là việc đưa các giống lúa ngắn ngày thay thế các giống lúa nổi, lúa mùa địa phương từ sau trận lũ lịch sử năm 1978, mở ra hướng phát triển mới theo hướng tăng vụ, thâm canh và khai hoang mở rộng diện tích đưa sản xuất lúa tăng tốc những năm sau đó, để rồi sản lượng lúa lần lượt vượt qua các ngưỡng 1 triệu tấn ( năm 1991), 2 triệu tấn ( năm 1999), 3 triệu tấn ( năm 2007). Đồng hành cùng sản xuất, công nghiệp chế biến lúa gạo ở tỉnh Kiên Giang cũng có sự phát triển nhanh cả về số lượng, quy mô, công nghệ, đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thu mua, chế biến, tiêu thụ, nhất là từ sau năm 1990 khi Kiên Giang cùng cả nước tự túc được lương thực và bắt đầu tham gia thị trường lúa gạo thế giới. Cũng từ thời điểm này, ngành lúa gạo Kiên Giang chính thức trở thành ngành sản xuất hàng hóa, với lượng gạo xuất khẩu hàng năm gia tăng: từ 11.000 tấn ( năm 1991) lên 780.700 tấn (năm 2008) với giá trị xuất khẩu gần 387 triệu USD, chiếm 77% tổng kim ngạch xuất khẩu cả tỉnh và trong 9 tháng của năm 2009, đã xuất khẩu 806.400 tấn, đạt kim ngạch 308,5 triệu USD, chiếm 79,3% tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng. Có được kết quả trên, bên cạnh sự quan tâm của nhà nước và toàn xã hội trong quy hoạch các vùng sản xuất trọng điểm, tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, mở rộng diện tích sản xuất ở vùng Tứ giác Long Xuyên, đẩy mạnh xã hội hóa công tác giống và bước đầu thí điểm xây dựng vùng lúa chất lượng cao gắn với bao tiêu sản phẩm...không thể không nói đến những người trồng lúa – chủ thể của sản xuất, nguồn lực quan trọng quyết định sự thăng hoa của lúa gạo hôm nay: Từ những người lao động thủ công, sản xuất tự cấp tự túc, dựa vào kinh nghiệm, sức lực và sự ưu đãi của tự nhiên là chính, theo thời gian, họ đã thay đổi nhận thức, tư duy theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với thị trường; tiếp cận và vươn lên làm chủ những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới giúp khai thác tốt hơn, hiệu quả hơn tài nguyên tự nhiên phát triển sản xuất. Sự cần mẫn khai phá vùng đất phèn tứ giác Long Xuyên, Bán đảo Cà Mau là những minh chứng cho sự nỗ lực và thành quả lao động của người dân vùng lúa. Thành tựu đạt được là rất lớn, song sản xuất lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, tỉnh Kiên Giang nói riêng còn những hạn chế, khó khăn, đáng chú ý là: Năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất còn thấp, giá thành sản phẩm cao, sức cạnh tranh yếu. Một mặt do kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất còn yếu kém, chưa đồng bộ, nhất là hệ thống thủy lợi, điện phục vụ sản xuất; quy mô, mức độ, trình độ cơ giới hóa các khâu sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch còn thấp; hệ thống chế biến, bảo quản lúa gạo chưa đáp ứng yêu cầu cả về quy mô và thiết bị công nghệ (Ở Kiên Giang, hệ thống thủy lợi mới cơ bản giải quyết khâu tạo nguồn nước cho 2/3 diện tích sản xuất, còn 1/3 diện tích vẫn sản xuất dựa vào nước trời; cơ giới hóa sản xuất đạt 95% diện tích khâu làm đất, 90% diện tích khâu bơm tưới (trong đó bơm điện mới chiếm 6%), 25% diện tích khâu thu hoạch (chủ yếu vụ đông xuân), 30% sản lượng khâu sấy (chủ yếu vụ hè thu); hệ thống kho dự trữ mới đáp ứng 20% sản lượng lúa hàng hóa, năng lực xay xát lúa đạt 60% sản lượng, chế biến gạo xuất khẩu gần 800.000 tấn/năm). Mặt khác, tổ chức sản xuất lúa chủ yếu theo hộ gia đình, quy mô nhỏ, không thuận lợi cho đầu tư phát triển và ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nên sản phẩm làm ra chưa đồng nhất, chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả chế biến và chất lượng sản phẩm. Từ sản xuất đến thu mua, chế biến, tiêu thụ còn chia khúc, cắt đoạn, chưa có được các mô hình sản xuất gắn với thu mua chế biến, tiêu thụ mang lại hiệu quả cao, bền vững. Đây cũng là những nguyên nhân mà đến nay ngành lúa gạo chưa nâng được hiệu quả sản xuất lúa của người nông dân, chưa xây dựng được thương hiệu cho lúa gạo Việt nam nói chung, đồng bằng sông Cửu Long và các khu vực đặc thù nói riêng – điều kiện cần và đủ để lúa gạo nước ta hội nhập sâu hơn có có hiệu quả hơn trên thị trường thế giới. Các chính sách khuyến khích, phát triển sản xuất, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và chính sách đối với người sản xuất lúa gạo tuy được tăng cường trong những năm gần đây, góp phần hỗ trợ thúc đẩy sản xuất phát triển, song, các chính sách này chủ yếu xử lý những tình thế trước mắt, chưa có được các chính sách cơ bản lâu dài về đất đai, đầu tư, tín dụng, bảo hiểm…; có những chính sách ban hành nhưng cơ chế, thủ tục còn nhiều vướng mắc, người dân khó tiếp cận. Hệ thống tổ chức quản lý sản xuất, lưu thông, cung ứng lúa gạo chưa được xây dựng đến cơ sở. Để khắc phục những khó khăn, hạn chế những thách thức đưa đưa ngành lúa gạo tiếp tục phát triển, hội nhập sâu hơn vào thị trường thế giới, trong thời gian tới tỉnh Kiên Giang sẽ quan tâm và tập trung thực hiện một số vấn đề sau: Tổ chức lại sản xuất lúa gạo theo hướng hình thành vùng sản xuất có quy mô lớn, khép kín từ sản xuất đến chế biến gắn với thị trường tiêu thụ. Trước mắt, đẩy mạnh hợp tác liên kết sản xuất đa lĩnh vực, nhất là các khâu ứng dụng giống, cơ giới hóa khâu sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch, các hoạt động dịch vụ sản xuất…, từng bước khắc khục dần tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, riêng lẻ. Trên cơ sở đó, tiếp tục củng cố, kiện toàn, thành lập mới các tổ hợp tác, hợp tác xã, các trang trại sản xuất nông nghiệp. Đây là khâu đột phá tạo bước chuyển mạnh mẽ trong hình thức tổ chức quản lý để mở rộng sản xuất nông nghiệp theo quy mô lớn. Hiện nay, vấn đề bức thiết của người nông dân là khâu tiêu thụ lúa hàng hóa. Phần lớn hộ nông dân trồng lúa ở Kiên Giang có diện tích trên dưới 1 ha, năng suất khi thu hoạch khoảng 5-6 tấn/ha, nhưng bán ở đâu, thời điểm nào, giá cả bao nhiêu là bài toán luôn đặt ra cho người sản xuất. Cho nên, việc xây dựng vùng nguyên liệu lúa chất lượng cao gắn với bao tiêu sản phẩm là một trong những giải pháp đúng tạo sự liên kết chắt chẽ về lợi ích giữa ngưới nông dân và các nhà doanh nghiệp. Trong sự liên kết này, các doanh nghiệp sẽ chủ động được về sản lượng, chất lượng và giá cả sản phẩm; còn người nông dân có được nơi tiêu thụ ổn định, giá cả hợp lý, tạo được niềm tin và quan trọng hơn là tạo điều kiện cho người nông dân quen dần với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, bước đầu thực hiện sự liên kết này là hết sức khó khăn, đòi hỏi phải có sự kiên trì đối thoại hợp tác của các bên, trong đó vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tạo môi trường thuận lợi là hết sức cần thiết. Việc đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng nông thôn và đẩy nhanh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp là nền tảng cho việc phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL. Nhiều năm qua, tỉnh Kiên Giang đã quan tâm tập trung đầu tư vào các lĩnh vực thủy lợi, điện, đường, công tác giống, công nghệ sản xuất, thu hoạch, sau thu hoạch…. Tuy nhiên, với khả năng và điều kiện có hạn nên chưa đáp ứng được yêu cầu đầu tư đồng bộ nhằm phát huy thế mạnh từng vùng, từng địa bàn. Vấn đề bức xúc hiện nay là hệ thống điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Đây cũng là những điều kiện tiên quyết để đẩy mạnh cơ giới hóa, điện khí hóa, áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, giảm chi phí, hạ giá thành, tăng sức cạnh tranh của lúa gạo hàng hóa trên thị trường và tăng thu nhập cho người trồng lúa. Để đảm bảo sản lượng lúa hàng năm của tỉnh đạt từ 3,4 triệu tấn trở lên, vấn đề quy hoạch sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cũng là vấn đề cần quan tâm. Tỉnh Kiên Giang cố gắng quy hoạch ổn định đất trồng lúa khoảng 340.000-345.000 ha, hạn chế thấp nhất việc chuyển đất lúa, đặc biệt là đất lúa 2 vụ ổn định sang đất phi nông nghiệp; bố trí lại cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi, nhất là luân canh, xen canh rau màu, thủy sản để tăng hiệu quả sử dụng đất lúa, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh lượng thực và xuất khẩu. Là vùng trọng điểm của cả nước, nhà nước cần xây dựng cơ chế chính sách riêng đối với sản xuất lúa gạo vùng ĐBSCL, với hệ thống chính sách đồng bộ về đầu tư, đất đai, tính dụng, bảo hiểm, tiêu thụ sản phẩm…, nhằm ổn định phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân; đặc biệt, cần có chính sách đối với người trồng lúa để họ gắn bó hơn với đồng ruộng. Hiện nay, thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn mặn, dẫn ngọt, rửa phèn phục vụ khai hoang, phục hóa, tăng vụ, thâm canh tăng năng suất sản lượng ở nhiều vùng ĐBSCL. Để ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu làm cho nước biển dâng cao dẫn đến nhiều vùng đất ở ĐBSCL bị xâm nhập mặn, nhà nước sớm đầu tư thỏa đáng nâng cấp các tuyến đê biển vững chắc, trồng rừng ngập mặn ven biển Tây; bên cạnh đó, trước tình hình các nước thượng nguồn sông MêKong đang có kế hoạch xây dựng các đập giữ nước lại ở các sông nhánh và dòng chính sông MeKong để phục vụ sản xuất nông nghiệp và làm thủy điện, điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lượng nước cung cấp xuống vùng hạ lưu, nhất là mùa hạn, do đó: tỉnh Kiên Giang đang kiến nghị Chính phủ, với tư cách thành viên Ủy ban quốc tế sông MêKong, cần phải kiên trì đấu tranh để bảo đảm nguồn nước cho vùng hạ lưu thuộc các con sông của Việt Nam, đảm bảo sự phát triển bền vững của vùng ĐBSCL./.