Thời gian gần đây, vấn đề vay và quản lý các khoản nợ công, nợ vay quốc gia đã và đang được đặt ra nghiêm túc và cấp thiết, trong đó, điều dư luận quan tâm là độ an toàn của chỉ tiêu nợ, khả năng trả nợ và nhất là hiệu quả sử dụng nguồn vốn vay như thế nào?

Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong giai đoạn 2006-2010, tổng dư nợ công đến hết năm 2006 ở mức 400 nghìn tỷ đồng (bằng 41,1% GDP), đến hết năm 2010 ở mức 1.135 nghìn tỷ đồng (bằng 57,3% GDP), ước dư nợ công đến hết năm 2011 sẽ ở mức 1.370 nghìn tỷ đồng (bằng khoảng 54,6% GDP). Dự báo đến cuối năm 2015 tổng dư nợ công sẽ vào khoảng 2.752 nghìn tỷ đồng (bằng 61,1% GDP năm 2015).

Đối với các khoản nợ nước ngoài quốc gia (bao gồm tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ doanh nghiệp và tổ chức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam), đến hết năm 2006 số nợ này là 304 nghìn tỷ đồng (bằng 31,2% GDP), đến hết năm 2010 là 835 nghìn tỷ đồng (bằng 42,2% GDP), ước dư nợ nước ngoài của quốc gia đến hết năm 2011 ở mức 1.041 nghìn tỷ đồng (bằng khoảng 41,5% GDP), đến hết năm 2012 ước ở mức 1.290 nghìn tỷ đồng (bằng 44,2% GDP), đến cuối năm 2015 sẽ khoảng 2.183 nghìn tỷ đồng (bằng 48,5% GDP năm 2015).

Với tỷ lệ vay nợ chiếm khá cao so với GDP như vậy, vấn đề đặt ra là các khoản vay này đã được sử dụng và mang lại những hiệu quả gì? Trong thực tế, nhiều dự án cơ sở hạ tầng quốc gia có quy mô lớn trong các lĩnh vực, hệ thống cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng an ninh - quốc phòng đã được thực hiện và đưa vào sử dụng hiệu quả là nhờ có các nguồn vốn vay của khu vực công, nhất là các khoản vay của Chính phủ.

Tuy nhiên, dù đạt được những tiến bộ đáng kể nhưng trong quá trình thực hiện huy động, phân bổ, sử dụng, trả nợ và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia vẫn còn một số vướng mắc, hạn chế, trong đó nổi lên vấn đề xác định tổng thể nhu cầu và cân đối các nguồn vốn chưa gắn với khả năng huy động cũng như với việc xác định hạn mức vay an toàn. Việc phân bổ nguồn vốn vay còn dàn trải; tiến độ giải ngân chậm làm cho hiệu quả đầu tư thấp... Ngoài ra, tâm lý dựa vào nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước còn phổ biến; một số khoản vay ODA bị ràng buộc sử dụng thiết bị, nhà thầu nước ngoài... đã ảnh hưởng xấu đến hiệu quả đầu tư. Đây là những vấn đề đáng quan tâm, bởi dựa trên những cơ sở này, cơ quan quản lý nhà nước đã xác định, tuy chỉ số nợ vẫn trong tầm kiểm soát, nhưng vẫn tiềm ẩn những rủi ro.

Trong dự kiến chỉ tiêu an toàn nợ công giai đoạn 2011 - 2015, cơ quan quản lý nợ đã đề xuất hệ thống các chỉ tiêu, giải pháp vay nợ an toàn và phù hợp. Trong số các giải pháp này, việc bổ sung chỉ tiêu nợ công vào hệ thống chỉ tiêu giám sát an toàn nợ quốc gia; tăng cường giám sát, kiểm tra, kiểm toán, quyết toán việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay (đặc biệt là các DN) để bảo đảm hiệu quả đầu tư, trả được nợ... phải được ráo riết thực thi, bởi chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể kiểm soát và bảo đảm cho các khoản nợ vay được vận hành trong hành lang an toàn.