Tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng… được xác Đại hội Đảng XII xác địnhlà nhiệm vụ rất lớn và phức tạp, đòi hỏi phải triển khai thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, lĩnh vực trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương, đơn vị cơ sở… Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị “tư duy nhiệm kỳ”, tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay “lợi ích nhóm” chi phối”…

Kiem soat loi ich nhom va tu duy nhiem ky trong tai co cau kinh te - Anh 1

Nhà máy Xơ sợi polyester Đình Vũ (Hải Phòng) là 1 trong 5 dự án được Quốc hội chỉ ra đang thua lỗ do nhiều yếu kém trong đầu tư.

Nhận diện “lợi ích nhóm” và “tư duy nhiệm kỳ”

“Tư duy nhiệm kỳ” và “Lợi ích nhóm” là cặp bài trùng, gắn bó với nhau như hình với bóng và là biểu hiện tập trung của sự suy thoái đạo đức, cũng như nhận thức về lý tưởng và trách nhiệm xã hội của một bộ phận không nhỏ đảng viên và cán bộ đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia bộ máy lãnh đạo các cấp, ngành của Đảng, Nhà nước, doanh nghiệp và xã hội.

“Lợi ich nhóm” và “Tư duy nhiệm kỳ” có những biểu hiện “muôn hình vạn trạng”, biến màu linh hoạt và ngày càng phủ rộng, len sâu khắp các lĩnh vực, địa phương, quy mô và các cấp độ. Tuy vậy, chúng đều có chung một đặc trưng nguy hiểm là thường khai thác, lạm dụng các kẽ hở và ẩn mình trong vỏ bọc pháp luật; đồng thời, ngày càng hành động có tổ chức và luôn “to mồm”, “lẻo mép” nhân danh cái tốt đẹp và lợi ích chung, quốc gia, cộng đồng tập thể, để cốt chỉ thu vén lợi ích cho cá nhân, gia đình, nhóm cánh hẩu của mình, hoặc nhiệm kỳ mình càng nhiều càng tốt…

Trong công tác quy hoạch và đầu tư công, đó là hiện tượng sản xuất hàng loạt quy hoạch, chiến lược phát triển được xây dựng, thẩm định cẩu thả, với các dự án “dưới chuẩn”, cùng loại, cùng kiểu ở mọi địa phương, bất chấp các căn cứ khoa học, khả năng đầu tư thực tế và hiệu quả kinh tế-kỹ thuật. Đó là hiện tượng quan chức hay lãnh đạo doanh nghiệp sẵn sàng vung tiền công bạc tỷ mua hàng quá đát với giá trên trời, để cốt kiếm vài trăm ngàn tiền lộc riêng, kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi”. Thậm chí, đó còn là vì động cơ riêng mà “đẻ non” hay tùy tiện thay đổi quy hoạch; quản lý dự án gian dối và tìm mọi sức ép tăng nợ công để có tiền đầu tư những dự án cơ sở hạ tầng “khủng”, chất lượng thấp hoặc đầu tư không đúng lúc và đúng cách (kiểu “ném tiền qua cửa sổ”), bất chấp hiệu quả KT-XH và gánh nặng trả nợ khổng lồ cho thế hệ sau.

Trong lĩnh vực tài chính-tiền tệ-ngân hàng, đó là căn bệnh mãn tính với việc phân bổ vốn đầu tư ngân sách và tín dụng ưu đãi kiểu dàn trải, theo cơ chế xin-cho và nhất là theo mức % phong bì “lại quả” và sự “biết điều” của đối tượng, người và địa phương nhận được vốn cấp. Đó là các hiện tượng “ăn chia” gây thất thu NSNN các cấp. Đó là hiện tượng lạm dụng chỉ định thầu, ép thầu, chạy thầu hay đấu thầu dự án kiểu hình thức, “quân xanh quân đỏ”, miễn sao “người mình” được trúng thầu, bất chấp các quy định pháp lý hay năng lực, chất lượng thực hiện dự án thầu. Hơn nữa, đó còn là hiện tượng bắt tay giữa quan chức, ngân hàng và doanh nghiệp trong hoạch định và thực thi chính sách, phân bổ và điều tiết dòng tiền; khiến nơi thừa vốn, nơi đói vốn, bất chấp tiêu chuẩn an toàn và những ưu tiên cho vay cần có trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Đó còn là sự “ngược dòng” hoặc chênh lệch cao kéo dài, khó hiểu của giá ngoại hối (nhất là vàng) trong nước với nước ngoài, giữa lãi suất đầu vào và đầu ra của ngân hàng, khiến các ngân hàng thu lãi “khủng” và cũng chịu tỷ lệ nợ khó đòi cao, tạo nguy cơ phát triển TTTC thiếu bền vững và gây áp lực và tổn phí cho Nhà nước trong bình ổn vĩ mô, còn khu vực doanh nghiệp thì ngày càng mất sức cạnh tranh và động lực kinh doanh.

Trong quản lý giá cả những ngành độc quyền, đó là hiện tượng giá cả chỉ có lên một chiều, hoặc lên nhanh, xuống chậm, với những độ vênh từ vài chục tới vài trăm phần trăm giữa giá nội với ngoại, bất chấp các xu hướng và động thái thị trường, cũng như lợi ích chính đáng và sự bất bình của người dân.

Trong cơ cấu phát triển ngành, đó còn là hiện tượng coi nhẹ hay bỏ rơi những ngành, nghề cần thiết cho ổn định và phát triển xã hội, nhưng lại bảo hộ “vô điều kiện”(?!) và kéo dài quá mức đối với một số ngành nghề, sản phẩm, mà chúng mang lại hay gắn với lợi ích nhóm, nhân danh vì mục tiêu phát triển ngành công nghiệp quốc gia nào đó. Đó còn là hiện tượng không muốn hay trì hoãn cổ phần hóa, lạm dụng tỷ lệ khống chế vốn nhà nước trong DNNN càng cao càng tốt. Đó còn là hiện tượng tư nhân hóa ngấm ngầm và “đục nước béo cò” trong cổ phần hóa, mua bán sáp nhập doanh nghiệp, mua - bán nợ theo giá cao và thất thoát vốn, tài sản nhà nước trong bối cảnh nhiều mù mờ, “tranh tối, tranh sáng” hiện nay.

Sự cấu kết của các nhóm lợi ích với các nhà hoạch định chính sách theo tư duy nhiệm kỳ dễ dẫn tới các hành vi tham nhũng hoặc trục lợi, vun vén cá nhân. Đó là những biểu hiện tha hóa trong sử dụng quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị ở các cấp, lĩnh vực, vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luật, ăn bám trong quá trình phát triển và tái cơ cấu kinh tế... Chúng tạo ra hiện tượng chạy chính sách, chạy dự án, chạy vốn, chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích và cả chạy tội, chạy án…; làm sai lệch các tín hiệu thị trường, cơ cấu và định hướng các nguồn lực quốc gia, làm tăng nợ công và sự bất ổn vĩ mô…

Kiểm soát “Lợi ích nhóm” & “Tư duy nhiệm kỳ”

Cũng như nạn tham nhũng, “Lợi ích nhóm” và “Tư duy nhiệm kỳ” là virus ký sinh thường xuyên trong mỗi thể chế nhà nước. Điều kiện quan trọng để hạn chế “Lợi ích nhóm” và “Tư duy nhiệm kỳ” là sớm xây dựng những giá trị chuẩn chung, những cơ chế hữu hiệu bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo sự đồng thuận lý tưởng chung cho xã hội; khắc phục những ngộ nhận về công cụ với mục tiêu, những bất cập và lạm dụng về khái niệm, nội hàm mô hình tăng trưởng; sự lẫn lộn, mù mờ giữa địa giới hành chính chủ quan và không gian, cơ cấu kinh tế khách quan. Đồng thời, cần xây dựng Luật Đầu tư Công và làm rõ quyền tự chủ địa phương với yêu cầu quản lý nhà nước tập trung, thống nhất (đặc biệt là trong quy hoạch tổng thể chung và quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc thị trường); phân biệt rạch ròi giữa mục tiêu vì lợi nhuận với mục tiêu phi lợi nhuận, nhiệm vụ chính trị với nhiệm vụ kinh doanh của các hoạt động đầu tư công; cũng như quản lý nhà nước với quản lý kinh doanh; khắc phục và sự thiếu minh bạch trong chính sách, thông tin và cả trong hệ tiêu chí đánh giá, đo lường chất lượng, hiệu quả đầu tư; tăng yêu cầu giải trình, sự phản biện và giám sát xã hội…

Đặc biệt, cần đổi mới công tác cán bộ theo hướng đề cao quy chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa và trách nhiệm cá nhân, người đứng đầu; khắc phục tình trạng bổ nhiệm đúng quy trình hình thức, nhưng không bảo đảm chất lượng cán bộ theo quy hoạch; coi trọng phát hiện, đào tạo, sử dụng và tôn vinh người tài, đủ tâm và đủ tầm gánh vác trọng trách, vị trí đầu đàn; kiên quyết chống những biểu hiện tham nhũng trong công tác cán bộ, cũng như thường xuyên phát hiện, xử lý, loại bỏ kịp thời những cán bộ tham nhũng, suy thoái đạo đức và vô trách nhiệm, mất uy tín và trở thành lực cản phát triển.

TS.Nguyễn Minh Phong