Bị truy nã về tội vận chuyển trái phép chất ma túy, bị can Chu Văn Lâm (trú tại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh), sau 21 năm đã ra đầu thú và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên, cơ quan tố tụng của tỉnh Thái Nguyên lại không tìm thấy hồ sơ vụ án hình sự này, trong khi các tài liệu mới thu thập được từ hồ sơ lưu trữ cũng không thể phục chế được, do đó không có tài liệu, chứng cứ để truy tố đối với Lâm.

Kho hieu chuyen bi can dau thu, co quan to tung khong tim thay ho so vu an - Anh 1

Ảnh minh họa

Nội dung vụ án

Theo Cáo trạng số 77/HSKS ngày 7/12/1990 của VKSND TP Thái Nguyên, tỉnh Bắc Thái cũ (nay là tỉnh Thái Nguyên) công bố kết quả điều tra xác định: Chu Văn Lâm và Trần Xuân Tường (cùng trú tại xã Cẩm Quan, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh), ngày 27/6/1990, Lâm rủ Tường ra tỉnh Bắc Thái chơi với bạn là Lưu Văn Toàn ở xóm Cổ Rùa, xã Cao Ngạn, huyện Đồng Hỷ.

Khi đi Lâm mang theo khoảng 3kg thuốc phiện với ý định nhờ Toàn bán hộ (mặc dù đi cùng nhưng Tường không biết Lâm mang theo thuốc phiện). Khi đến nơi, do Toàn không ở nhà, nên Lâm và Tường được Lưu Văn Phong (anh trai của Toàn) tiếp đón.

Sau mấy ngày chơi ở nhà với Phong, nhưng vẫn không thấy Toàn về, Lâm bèn nói với Phong rằng mình có 3kg thuốc phiện và đem lời nhờ Phong tìm mối bán hộ với giá 400 nghìn đồng/1kg. Phong “được lời như cởi tấm lòng” phần do bản thân là đối tượng nghiện hút nên Phong đã nhận lời tìm nơi để tiêu thụ giúp Lâm.

Sau đó, Phong nhờ Triệu Khắc Tiến (là bạn cùng xóm) hỏi giúp nơi tiêu thụ thuốc phiện và Tiến đã tìm được 1 người tên là Toàn (theo Tiến thì nhà Toàn ở trong khu nhà 3 tầng gần khách sạn chuyên gia, cạnh đường tròn Bảo tàng Việt Bắc, thuộc tổ 3, phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên). Được “chắp mối”, ngày 7/7/1990 Toàn đã đến nhà Phong để xem hàng và lấy 1 khối lượng nhỏ về để kiểm tra chất lượng.

Ngày 8/7/1990, người có tên là Toàn tiếp tục đến nhà Phong và nhất trí mua các gói hàng với giá 400 nghìn đồng/1kg và hẹn Phong chở thuốc phiện sang TP Thái Nguyên thì Toàn sẽ đón ở đường tròn gần Bảo tàng Việt Bắc để lấy thuốc phiện và trả tiền.

Mặc dù được Toàn hẹn nhưng do có bạn là Hà Minh Toản (trú tại phường Phan Đình Phùng, TP Thái Nguyên) sang chơi và rủ đi làm vàng nên Phong không đi ngay được. Tối hôm đó Toản ngủ tại nhà Phong.

Về phía người thanh niên tên Toàn, đến sáng ngày 9/7/1990 do không thấy Phong đem thuốc phiện sang giao nên đã đến nhà Phong giục đưa thuốc phiện sang TP Thái Nguyên ngay. Lúc này Toản chuẩn bị về nhà thì Phong nói chờ để mình sang TP Thái Nguyên cùng.

Sau đó Phong buộc thuốc phiện (để trong một chiếc balô cũ) vào đèo hàng xe đạp của Toản và nhờ Toản chở hộ sang TP Thái Nguyên. Mặc dù Toản có nhận biết đó là gói thuốc phiện vì hôm trước đã thấy Phong thì thào trao đổi giá cả với người thanh niên tên Toàn, nhưng vì là chỗ bạn bè với Phong nên Toản không tiện từ chối.

Đến trưa 9/7/1990, Phong và Toản đến khu vực đường tròn gần Bảo tàng Việt Bắc. Sau khi gặp nhau, Toàn bảo với Phong và Toản đứng chờ để Phong về nhà lấy tiền ra trả và nhận thuốc phiện. Tuy nhiên, sau đó Toàn lại chạy ra nói rằng mình chưa đủ tiền và dặn Phong và Toản đứng đợi thêm 1 lúc nữa.

Đợi đến khoảng 19h cùng ngày không thấy người thanh niên tên Toàn ra, Phong và Toản đành rủ nhau đem gói thuốc phiện về. Tuy nhiên, vừa đi được một đoạn thì Hà Minh Toản bị Phòng CSĐT Công an tỉnh Bắc Thái bắt khẩn cấp cùng toàn bộ vật chứng. Sau đó Công an tỉnh Bắc Thái đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an TP Thái Nguyên để điều tra theo thẩm quyền.

Đến ngày 8/8/1990, Trạm kiểm nghiệm dược liệu thuộc Sở Y tế tỉnh Bắc Thái đã tiến hành kiểm nghiệm và xác định gói hàng trên có trọng lượng 2,5kg là thuốc phiện ở dạng cao lá. Do tang vật của vụ án là 2,5kg thuốc phiện là dạng tà sản khó bảo quản, nên đã được chuyển giao cho Xí nghiệp thuốc lá Bắc Thái cũ sử dụng vào sản xuất và hoàn lại giá trị là 750 nghìn đồng.

Bị can đầu thú, cơ quan tố tụng không tìm thấy hồ sơ vụ án

Liên quan đến vụ án này, sau khi tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ và tiến hành điều tra, xác minh. Ngày 13/7/1990, Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên đã ra Quyết định khởi tố vụ án số 83 và các Quyết định khởi tố bị can số 145, 146, 147, 148 đối với Chu Văn Lâm, Lưu Văn Phong, Trần Văn Tường, Hà Minh Toản về tội “Vận chuyển, buôn bán hàng cấm (thuốc phiện)” quy định tại Điều 166 BLHS 1985. Đồng thời ra lệnh tạm giam đối với 4 bị can trên.

Đến ngày 8/11/1990, Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên ra Quyết định đình chỉ điều tra số 44, 45 đối với các bị can Trần Văn Tường, Hà Minh Toản để xử lý hành chính đồng thời Cơ quan CSĐT Công an TP Thái Nguyên đã chuyển toàn bộ hồ sơ và số tiền 750 nghìn đồng là tiền bán thuốc phiện đến VKSND TP Thái Nguyên để truy tố đối với các bị can Chu Văn Lâm, Lưu Văn Phong theo thẩm quyền.

Ngày 7/12/1990, VKSND TP Thái Nguyên ban hành Bản cáo trạng số 77/HSKT truy tố các bị can Chu Văn Lâm và Lưu Văn Phong về tội “Mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 96a BLHS năm 1985 do ông Bùi Huy Lập, Phó Viện trưởng VKSND TP Thái Nguyên ký.

Trong quá trình điều tra, bị can Chu Văn Lâm đã bị tạm giam từ ngày 13/7/1990 đến ngày 8/8/1990 được tại ngoại. Sau đó, cơ quan tố tụng triệu tập Lâm đến làm việc, nhưng đối tượng này không chấp hành, đồng thời vắng mặt tại nơi cư trú.

Đến ngày 6/10/1995, Công an TP Thái Nguyên ra quyết định truy nã đối với bị can Lâm. Sau 21 năm, ngày 29/3/2016, Lâm đã tới Công an tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Ngày 30/3/2016, Công an tỉnh Hà Tĩnh đã bàn giao đối tượng Lâm cho Công an TP Thái Nguyên xử lý theo thẩm quyền. Còn bị can Lưu Văn Phong bị tạm giam 31 ngày, sau đó được tại ngoại.

Sau khi Chu Văn Lâm ra đầu thú thì vụ án mới được cơ quan tố tụng TP Thái Nguyên vào cuộc. Cụ thể, VKSND TP Thái Nguyên phối hợp với Công an TP Thái Nguyên xác minh, thu thập tài liệu liên quan đối với Lưu Văn Phong là bị can trong vụ án để củng cố tài liệu, chứng minh hành vi phạm tội của Chu Văn Lâm. Tại nơi thường trú của Lưu Văn Phong ở xóm Cổ Rùa, xã Cao Ngạn, TP Thái Nguyên xác định từ năm 1992 Phong không sinh sống ở địa phương, đã chuyển khẩu vào sinh sống tại tổ 12, khu phố 1, đường Lê Văn Trí, phường Linh Trung, quận Thủ Đức, TP HCM...

Đồng thời cơ quan tố tụng cũng lấy lời khai chị Lưu Thị L. (là chị gái đối tượng Lưu Văn Phong, đồng phạm với Lâm). Theo khai báo của chị L., hiện em trai cùng gia đình đã vào miền Nam làm ăn sinh sống khoảng 20 năm nay. Phong thỉnh thoảng có về Thái Nguyên thăm gia đình. Chị L. còn cho biết, năm 1990, Phong có liên quan đến vụ án mua bán thuốc phiện, đã bị Công an TP Thái Nguyên bắt giữ một thời gian, sau đó được tha về, nhưng chưa bị Tòa án xét xử.

Ngày 29/8/2016 tại trụ sở Công an phường Linh Trung, quận Thủ Đức, cơ quan đã tiến hành lấy lời khai của Lưu Văn Phong. Theo đó Phong khai: Sau khi bị bắt giữ, Phong bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Thái cũ. Trong thời gian đó Phong được biết mình bị khởi tố về tội vận chuyển, buôn bán hàng cấm (thuốc phiện). Phong không nhận được bất kỳ một loại giấy tờ hay quyết định nào. Đến khoảng tháng 8/1990, Phong được tại ngoại về địa phương. Kể từ đó đến nay Phong không nhận được bất kỳ tài liệu, quyết định nào liên quan đến việc xử lý Phong, Phong cũng không biết việc xử lý đối với mình như thế nào. Sau đó Phong chuyển vào TP HCM và sinh sống từ đó cho đến nay và không nhận được bất kỳ thông tin, tài liệu gì có liên quan đến việc giải quyết vụ việc trên.

Về phía Chu Văn Lâm, tại cơ quan điều tra, Lâm khai nhận toàn bộ về hành vi mang thuốc phiện từ Hà Tĩnh ra Thái Nguyên để bán, cụ thể: Tháng 8/1990, sau khi được tại ngoại Lâm về địa phương sinh sống, Lâm không biết cụ thể quyết định cho tại ngoại là của cơ quan nào và không được nhận tài liệu liên quan đến việc cho tại ngoại, Lâm còn nhớ đã nhận Kết luận điều tra, ngoài ra không được nhận tài liệu gì khác. Việc được tại ngoại do anh trai ruột là ông Chu Văn Nuôi, Công tác tại Công an Hà Tĩnh bảo lãnh, ông Nuôi mất năm 2000.

Do sợ bị xử án nặng nên Lâm đã trốn, đến tháng 6/1994 về địa phương và đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, đến năm 1998 Lâm trở về địa phương và làm ruộng, năm 2003 lấy vợ; năm 2006 khi nghe thông tin mình bị truy nã, Lâm bỏ trốn vào Đắk Lắk làm thuê sau đó trở về địa phương và đi xuất khẩu lao động tại Malaixia đến tháng 11/2015 thì về nước. Do biết vẫn bị truy nã nên đến ngày 28/3/2016 Lâm ra đầu thú.

Ngày 30/3/2016, Công an TP Thái Nguyên đã tiếp nhận Chu Văn Lâm và tiến hành các biện pháp tố tụng để xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên quá trình kiểm tra hồ sơ, sổ sách lưu trữ tại VKSND TP Thái Nguyên cũng như phối hợp kiểm tra hồ sơ, sổ sách lưu trữ của TAND TP Thái Nguyên thì các cơ quan tố tụng hiện chưa tìm thấy hồ sơ gốc của vụ án hình sự Chu Văn Lâm và Phong. Trong khi các tài liệu mới thu thập được từ hồ sơ lưu trữ cũng không khôi phục được để có căn cứ đưa vụ án ra xét xử trước pháp luật.

Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng?

Trước sự việc trên, sau khi nhận được báo cáo của VKSND TP Thái Nguyên ngày 12/10/2016, VKSND tỉnh Thái Nguyên đã có Báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của liên ngành cấp tỉnh giải quyết vụ thất lạc hồ sơ gốc trong vụ án Chu Văn Lâm, xác định: Việc truy tìm và khôi phục hồ sơ vụ án Chu Văn Lâm và Lưu Văn Phong phạm tội: Mua, bán vận chuyển trái phép chất ma túy đã được VKSND TP Thái Nguyên và Công an TP Thái Nguyên phối hợp tích cực, nhưng không có kết quả. Không tìm thấy hồ sơ gốc vụ án: những người liên quan đã chết; không xác định được người làm chứng; không tìm được kết quả giám định chất ma túy và cân xác định trọng lượng. Đối với Lưu Văn Phong, tính thời hiệu phạm tội kể từ ngày 9/7/1990 đến nay là trên 25 năm do đó được hưởng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với Chu Văn Lâm do không tìm được hồ sơ vụ án hình sự và không thể phục chế được, nên không có tài liệu, chứng cứ để truy tố và xét xử đối với Lâm...

Việc để thất lạc hồ sơ vụ án trong đó có khoản tiền vật chứng (750 nghìn đồng) hậu quả là không xử lý được về hình sự đối với bị can Lưu Văn Phong và Chu Văn Lâm có dấu hiệu của việc thiếu trách nhiệm, gây hậu quả nghiêm trọng; về trách nhiệm của những cá nhân liên quan đến việc sau khi cho bị can Lưu Văn Phong tại ngoại, không xử lý gì đối với Phong và để xảy ra việc thất lạc hồ sơ vụ án vào thời điểm nào hiện nay không xác định được. Vì vậy việc xác định thời hiệu để xem xét trách nhiệm hay không xem xét trách nhiệm đối với những cá nhân này là rất khó, cần báo cáo VKSND tối cao để hướng dẫn chỉ đạo cụ thể.

Vậy việc làm rõ việc mất hồ sơ vụ án và xủ lý những người có liên quan trong vụ án này sẽ như thế nào?

Báo PLVN sẽ tiếp tục thông tin.

Đặng Vũ - Trung Thứ