Ca sĩ Hương Tràm đoạt giải Quán quân giọng hát Việt năm 2012.

Và trong những chương trình được gọi là "truyền hình thực tế" này, yếu tố huy động sự bình chọn bằng tin nhắn của khán giả thông qua hệ thống tổng đài đã trở thành xu hướng không thể thiếu tạo nên tính tương tác mạnh mẽ giữa công chúng và chương trình, đồng thời mang lợi nhuận khổng lồ về cho nhà sản xuất với nguồn thu từ lượng tin nhắn bình chọn có chi phí cao gấp từ mười đến 20 lần tin nhắn thông thường. Tuy nhiên, trong một cuộc chơi, khi mà quyền quyết định cao nhất được trao cho khán giả thì bao giờ cũng mang lại những kết quả khó có thể công bằng.

Người ta đã thấy quen khi chứng kiến thí sinh chuyển giới của Việt Nam Idol nhờ có lượt bình chọn cao cứ "tằng tằng" tiến sâu vào những vòng trong dù chỉ sở hữu chất giọng yếu ớt, hay trường hợp trước đây một nữ ca sĩ xinh đẹp của The Voice dù kỹ thuật hát còn non kém nhưng có nhiều "vote" nên cứ thản nhiên đi tiếp... Bởi đó, dường như đã là chuyện thường thấy ở những sân chơi âm nhạc trên truyền hình hiện nay, khi mà những thí sinh hát tốt lại ít được khán giả bình chọn, trong khi những thí sinh hát yếu vì chuyện này chuyện kia lại được khán giả ưu ái nhắn tin. Xét trên bề nổi của hiện tượng, có vẻ như những thí sinh nhận được nhiều tin nhắn giành được nhiều cảm tình của công chúng hơn và ngược lại. Song nếu xét trên bình diện chung của vấn đề thì sự thật chưa hẳn đã vậy, bởi lượng khán giả nhắn tin chưa chắc đã là đại diện của số đông khán giả, cũng chưa chắc đã hoàn toàn là những người có thẩm mỹ âm nhạc tốt, có chăng, chỉ khẳng định được duy nhất một điều, họ là những người nghe nhạc "thích hành động". Trong khi đó, có một thực tế là phần lớn những công chúng có trình độ cảm nhạc cao, có "gu" âm nhạc ổn định lại chẳng mấy khi "hành động" bằng tin nhắn, bởi đơn giản, họ khó tìm được tiếng nói chung trong những "cuộc vui" mà những giá trị được xây dựng từ đó lại phụ thuộc vào số lượng tin nhắn.

Hơn nữa, số khán giả bình chọn cho thí sinh qua hệ thống tin nhắn cũng chỉ có thể xác định một cách định tính chứ không thể định lượng rõ ràng, bởi đến nay, hầu như các cuộc thi chỉ đưa ra kết quả hiển thị dưới dạng phần trăm bình chọn chứ không phải số lượng tin nhắn thực tế bình chọn. Con số này càng khó xác định hơn khi nhà tổ chức không hạn chế số lượng tin nhắn của một thuê bao. Nếu chỉ tính riêng gia đình hay vài người bạn thân của thí sinh nhiệt tình gửi tin nhắn trong một buổi tối thì cũng đã đủ để tạo ra cả nghìn tin nhắn, con số cao gấp nhiều lần số người bình chọn thực tế. Đó là chưa kể có người còn tự bỏ tiền túi vận động nhắn tin... Chính điều này đã góp phần tạo nên những "giá trị ảo" trong đời sống âm nhạc. Những người có khả năng thật sự dễ bị "sốc" vì cho rằng bị khán giả quay lưng; các ca sĩ trẻ mới vào nghề sở hữu lượng tin nhắn ồ ạt tưởng chừng là của số đông thì dễ tự huyễn hoặc bản thân, cho rằng mình đã đủ tố chất và năng lực để thành "sao"; còn những bạn trẻ sắp có ý định dấn thân vào con đường âm nhạc thì cho rằng, để trở thành ca sĩ được yêu thích quá dễ...

Đành rằng, phát huy tính tương tác, huy động sự tham gia bình chọn của khán giả là một trong những yếu tố tích cực cần được khuyến khích trong những chương trình thực tế. Đó là chưa kể, nó còn tạo được nguồn thu lớn cho nhà đài trong thời buổi kinh tế khó khăn. Song với những cuộc thi tìm kiếm tài năng thật sự cho nền âm nhạc nước nhà, nơi mà những giá trị đích thực cần được tôn vinh, nơi mà yếu tố công bằng cần phải được đặt lên hàng đầu thì vai trò của những tin nhắn bình chọn cần phải được xem xét lại. Đối với một đất nước mà mặt bằng thẩm mỹ âm nhạc còn chưa cao như ở Việt Nam, để định hướng sự phát triển tích cực của nền âm nhạc nước nhà, thiết nghĩ, yếu tố quyết định trong các cuộc thi vẫn nên thuộc về một hội đồng nghệ thuật có đủ năng lực và trình độ; việc bình chọn thông qua tin nhắn vẫn nên duy trì nhưng ở dưới dạng một giải thưởng riêng hoặc chỉ chiếm một lượng phần trăm nhất định trong việc quyết định chất lượng thí sinh. Những cuộc thi âm nhạc truyền hình mua bản quyền từ nước ngoài mà "quyền sinh", "quyền sát" thuộc về khán giả sẽ chỉ có thể bảo đảm được tính công bằng ở thì tương lai, khi mà công chúng Việt Nam cũng được đào tạo một cách bài bản về cả thẩm mỹ và năng lực cảm thụ âm nhạc.