Theo các chuyên gia, muốn điều trị ung thư gan hiệu quả thì cần phải phát hiện sớm, nếu để đến khi có các dấu hiệu như vàng mắt, vàng da hay chướng bụng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn.

Đó là những ý kiến chia sẻ của PGS.TS Nguyễn Nghiêm Luật – giám đốc chuyên môn Bệnh viện Medlatec, tại buổi Hội thảo cập nhật kỹ thuật mới trong chẩn đoán ung thư gan, vừa được tổ chức mới đây tại Hà Nội.

Theo PGS Nguyễn Nghiêm Luật, hiện nay ung thư biểu mô tế bào gan là ung thư chủ yếu của bệnh ung thư gan và dẫn đến 746 nghìn ca tử vong trong năm 2012. Các nguyên nhân của ung thư gan biểu mô là do viêm gan vi rút B và C, xơ gan, nghiện rượu, béo phì và đái tháo đường, quá tải sắt, nhiễm độc aflatocxin.

Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 3 triệu người tử vong do xơ gan và ung thư gan trên thế giới. Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do bệnh gan là khoảng 17/100.000 dân. Nguyên nhân của bệnh ung thư gan hiện nay chưa được xác định một cách chính xác nhất, nhưng những yếu tố nguy cơ được cho là nhiễm virú viêm gan B, tuổi tác (trên 35 tuổi), nam mắc nhiều hơn nữa, yếu tố di truyền, số lượng virus trong máu và những người có men gan tăng…

Khi thay vang mat, vang da thi ung thu gan da o giai doan muon - Anh 1

Ung thư gan giai đoạn cuối. Ảnh minh họa

Tuy nhiên, bệnh ung thư gan trong giai đoạn đầu dấu hiệu thường rất nghèo nàn, vì thế nhiều người thường bỏ qua. Đến khi phát hiện thấy các dấu hiệu như vàng bàn tay, vàng da, vàng mắt hay chướng bụng thì bệnh đã ở giai đoạn muộn, thậm chí là di căn, gây khó khăn rất lớn trong việc điều trị.

PGS Nguyễn Nghiêm Luật cho rằng, hiện nay với sự phát triển không ngừng của y học, cùng nhiều kỹ thuật hiện đại giúp tầm soát, phát hiện sớm bệnh gan, các biến chứng xơ gan và ung thư gan. “Điển hình như phương pháp Fibroscan để chẩn đoán và định lượng xơ gan ở các bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính và các biomarker chẩn đoán ung thư gan nguyên phát.

Đây là phương pháp không xâm lấn giúp đánh giá độ cứng của gan có thể đo độ mỡ hóa của gan ở tất cả các bệnh nhân bị nhiễm bệnh gan mãn tính như viêm gan vi rút, viêm gan do rượu, đái tháo đường…”, PGS Luật dẫn chứng.

Ngoài ra, người dân vẫn có thể thực hiện các phương pháp chẩn đoán khác như khám lâm sàng, xét nghiệm máu, chẩn đoán hình ảnh (siêu âm, CT Scanner, đồng vị phóng xạ…), sinh thiết gan, thăm dò gan qua nội soi ổ bụng.

Trong đó, sinh thiết gan được coi như là tiêu chuẩn vàng trong sự đánh giá xơ gan. Tuy nhiên, theo bác sĩ Chung, đây là một phương pháp xâm lấn và tiềm ẩn các nguy cơ nguy hiểm mặc dù tỷ lệ biến chứng là hiếm khi xảy ra. Ngoài ra, sự chính xác của mẫu sinh thiết cũng là một vấn đề có thể dẫn đến sự sai lệch trong đánh giá xơ gan.

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng độ cứng gan có thể cung cấp các thông tin dự báo và tiên lượng nguy cơ xơ gan mất bù, ung thư gan và khả năng sống, đặc biệt là ở bệnh nhân viêm gan virus B và C mạn.

Lê Phương