SGTT.VN - Vì sao khu vực doanh nghiệp tư nhân vẫn cứ èo uột, chậm lớn.

Khi các nhà hoạch định chính sách có tư tưởng đổi mới được giao soạn thảo bộ luật Doanh nghiệp đầu tiên, họ đã đưa được vào đó một vấn đề hệ trọng: người dân được quyền tự do kinh doanh những gì luật không cấm. Tinh thần này chỉ được thể chế hóa năm 2000, tức là phải mất 15 năm sau Đổi mới. Trong một thập kỷ sau đó tính đến ngày nay, số lượng doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên 550.000, một kết quả rất ấn tượng của bộ luật này. Tuy nhiên, điều đáng nói là có tới 97% doanh nghiệp tư nhân vẫn chỉ ở quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, theo viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương. Khó mà kể tên những doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn có thể dẫn dắt thị trường, hay nổi trội về công nghệ, quản lý hay vươn ra cạnh tranh quốc tế. Tỷ lệ trên cho thấy câu chuyện đáng buồn của khu vực kinh tế này. Vì sao vậy? Trả lời ngắn gọn câu hỏi trên thật không dễ bởi có vô vàn lý do thuyết phục. Tuy nhiên, có một lý do cơ bản không thể phủ nhận, đó là khu vực kinh tế này cứ èo uột, chậm lớn do bị chèn ép bởi chính khu vực kinh tế nhà nước, khi Nhà nước làm kinh doanh. Phần thắng trong một cuộc chơi như vậy đương nhiên thuộc về ai giữ quyền vừa đá bóng vừa thổi còi. Câu chuyện gần đây nhất là một ví dụ. Ngày 27.9 vừa qua, ngân hàng Nhà nước đã ký một thỏa thuận vay vốn trị giá tới 630 triệu USD của ngân hàng Phát triển châu Á. Gói tài chính khổng lồ này, cho dù được mô tả dưới những từ ngữ rất tích cực như “hỗ trợ chuyển đổi”, hay “củng cố bảng cân đối tài chính”, hay “cải thiện năng lực điều hành”,… cũng không thể giấu đi cái đích của nó: chỉ dành cho doanh nghiệp nhà nước. Cấp 300 triệu USD trái phiếu quốc tế trả nợ cho Vinashin, hay bảo lãnh đến 90% tổng vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp nhà nước, hay vay 630 triệu của ADB để cấp cho doanh nghiệp nhà nước chỉ là một phần trong chuỗi dài các ưu ái – từ tài chính, đất đai, chính sách – mà Nhà nước dành cho khu vực doanh nghiệp của mình. Dù số lượng doanh nghiệp nhà nước ngày nay đã giảm đáng kể từ gần 13.000 cách đây hai thập kỷ xuống còn 1.500, họ vẫn đang nắm giữ tới 80% tài sản của Nhà nước và hầu hết nguồn lực đất nước, nhiều đến nỗi ngay cả Nhà nước cũng không biết rõ. Khó mà trông đợi một chính sách công bằng từ ông thứ trưởng được giao làm chủ tịch tập đoàn, hay chủ tịch tỉnh chịu trách nhiệm quản lý vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Vậy đâu là không gian phát triển cho khu vực kinh tế kia? Môi trường kinh doanh bất bình đẳng chỉ là một trong nhiều yếu tố chèn ép khu vực tư nhân. Một yếu tố khác có ảnh hưởng ngược ghê gớm là cách chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Môi trường kinh doanh bất bình đẳng chỉ là một trong nhiều yếu tố chèn ép khu vực tư nhân. Một yếu tố khác có ảnh hưởng ngược ghê gớm là cách chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên môi trường kinh doanh bất bình đẳng chỉ là một trong nhiều yếu tố chèn ép khu vực tư nhân. Một yếu tố khác có ảnh hưởng ngược ghê gớm là cách chi ngân sách cho đầu tư phát triển. Các báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội hàng năm luôn chứa đựng những câu chữ thể hiện sự tự hào về tỷ lệ đầu tư lớn của Nhà nước trong nền kinh tế. Báo cáo năm nay là một ví dụ. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến đạt khoảng 800 ngàn tỉ đồng, trong đó gần một nửa vẫn thuộc về Nhà nước như vốn đầu tư từ ngân sách, trái phiếu chính phủ, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước (còn lại là vốn đầu tư từ dân cư, tư nhân và FDI). Tỷ lệ này, theo ngân hàng Thế giới, đưa Việt Nam thành một trong những quốc gia đầu tư công lớn nhất thế giới. Con số này, vốn vẫn duy trì suốt hàng thập kỷ qua, cho thấy Nhà nước vẫn là nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam. Nhà nước là nhà đầu tư lớn nhất liệu có mâu thuẫn với sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tư nhân? Đó là điều đương nhiên. Chỉ cần nhìn về cách đầu tư của Nhà nước thì sẽ thấy nó tác động như thế nào đến ổn định kinh tế vĩ mô. Báo cáo của Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư nhà nước, song vẫn phải thực hiện các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao. Tung tiền đầu tư và ổn định vĩ mô, không để lạm phát là hai vấn đề đối lập trong kinh tế học. Nhà nước tăng cường bán trái phiếu, vay nợ, bội chi để mở rộng đầu tư thì khó mà ổn định được nền kinh tế vĩ mô giúp cho doanh nghiệp và người dân phát triển tốt. Một ví dụ tiêu biểu: trong cả năm nay, Nhà nước tăng cường bán trái phiếu trị giá tới 68 ngàn tỉ đồng thì vừa hút hết nguồn tín dụng của xã hội, vừa không cách nào hạ lãi suất như Chính phủ luôn chỉ đạo hệ thống ngân hàng. Một ví dụ khác: cứ mỗi khi kết thúc đàm phán về ODA hàng năm, các nhà đàm phán Việt Nam thường vui mừng công bố cam kết ODA luôn đạt kỷ lục mới. Tuy nhiên, người ta chưa bao giờ bỏ công sức để hoàn thiện hệ thống luật pháp, chẳng hạn như cơ chế công tư hợp doanh PPP để thu hút đầu tư tư nhân vào lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng. Không có hành lang pháp lý, doanh nghiệp tư nhân nào dám bỏ vốn đầu tư cơ sở hạ tầng đòi hỏi vốn rất lớn? Và thế là người ta lại đi vận động nước ngoài làm. Khi Nhà nước là nhà đầu tư lớn nhất, hay còn làm kinh doanh qua các doanh nghiệp của mình, thì khó mà đảm bảo những vai trò thiết yếu khác. Tình trạng đơn khiếu kiện gia tăng, tham nhũng tràn lan, bộ máy phình to mà kém hiệu quả, thủ tục hành chính rườm rà, bất ổn kinh tế vĩ mô theo chu kỳ,… sẽ rất khó được cải thiện. Mà đó toàn là những điều sống còn khi Việt Nam bắt đầu một chu kỳ mới trong thập kỷ tới.