Là một trong những nội dung được quy định tại 4 quy trình thanh tra an toàn thực phẩm vừa được Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long ký Quyết định số 4988/QĐ- BYT ban hành.

Về việc kiểm tra, xác minh tại cơ sở, trưởng đoàn thanh tra, thành viên đoàn thanh tra có trách nhiệm nghiên cứu các thông tin, tài liệu đã thu thập được; kiểm tra, xác minh tại nơi sản xuất, kinh doanh, chế biến, bảo quản thực phẩm để làm rõ nội dung thanh tra; đánh giá việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng thanh tra liên quan đến nội dung thanh tra được phân công; yêu cầu người có trách nhiệm, người có liên quan giải trình về những vấn đề chưa rõ; trường hợp cần phải tiến hành kiểm tra, xác minh để việc đánh giá bảo đảm tính khách quan, chính xác thì thành viên báo cáo trưởng đoàn xem xét, quyết định.

Trường hợp cần thiết để kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu hoặc làm rõ những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra thì trưởng đoàn, người ra quyết định thanh tra mời đối tượng thanh tra, đại diện cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có liên quan đến làm việc. Giấy mời được thực hiện theo Mẫu số 09 ban hành kèm theo Quyết định này.

Trường hợp cần làm rõ những vấn đề có liên quan đến nội dung thanh tra thì trưởng đoàn, người ra quyết định thanh tra có công văn yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo. Công văn yêu cầu báo cáo được thực hiện theo Mẫu số 10/TTr - ATTP ban hành kèm theo Quyết định này.

Kết quả kiểm tra, xác minh thông tin, tài liệu; kiểm tra, xác minh tại nơi sản xuất, kinh doanh, chế biến, bảo quản thực phẩm liên quan đến nội dung thanh tra phải được thể hiện bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân được kiểm tra, xác minh hoặc lập thành biên bản kiểm tra, xác minh. Biên bản kiểm tra, xác minh thực hiện theo Mẫu số 11/TTr - ATTP ban hành kèm theo Quyết định này.

Kết quả làm việc liên quan đến nội dung thanh tra phải được thể hiện bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, cá nhân được làm việc hoặc lập thành biên bản làm việc. Biên bản làm việc thực hiện theo Mẫu số 12/TTr - ATTP ban hành kèm theo Quyết định này.

Khi thực hiện quyền trong hoạt động thanh tra, trưởng đoàn, người ra quyết định thanh tra áp dụng các thủ tục theo quy định tại Điều 25 Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 6/10/2014 của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra và các quy định khác của pháp luật có liên quan, cụ thể như sau:

Đối với việc niêm phong tài liệu, theo quy trình, trường hợp xét thấy cần bảo đảm nguyên trạng tài liệu như quy định tại Điều 36 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP thì trưởng đoàn ra quyết định niêm phong tài liệu. Việc niêm phong tài liệu được thực hiện.

Trưởng đoàn thanh tra có quyền quyết định niêm phong một phần hoặc toàn bộ tài liệu có liên quan đến nội dung thanh tra. Quyết định niêm phong tài liệu phải bằng văn bản, trong đó ghi rõ tài liệu cần niêm phong, thời hạn niêm phong, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra. Trường hợp cần thiết thì lập biên bản về danh mục tài liệu niêm phong, biên bản phải có chữ ký của đối tượng thanh tra và đại diện đoàn thanh tra.

Thời hạn niêm phong tài liệu không được dài hơn thời gian thanh tra trực tiếp tại nơi được thanh tra. Việc khai thác tài liệu niêm phong phải được sự đồng ý của trưởng đoàn thanh tra.

Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp niêm phong thì người ra quyết định niêm phong phải ra quyết định hủy bỏ ngay biện pháp đó: Quyết định niêm phong tài liệu được thực hiện theo Mẫu số 13/TTr - ATTP; Quyết định mở niêm phong tài liệu được thực hiện theo Mẫu số 14/TTr - ATTP; Biên bản niêm phong tài liệu được thực hiện theo Mẫu số 15/TTr - ATTP; Biên bản mở niêm phong tài liệu được thực hiện theo Mẫu số 16/TTr - ATTP ban hành kèm theo Quyết định này.

Trường hợp cần kiểm kê tài sản, hàng hóa như quy định tại Điều 37 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP thì trưởng đoàn, người ra quyết định thanh tra quyết định kiểm kê tài sản, hàng hóa. Việc kiểm kê tài sản, hàng hóa được thực hiện khi tiến hành thanh tra nếu phát hiện giữa sổ sách, chứng từ với thực tế có chênh lệch, bất hợp lý hoặc có dấu hiệu chiếm dụng, chiếm đoạt, có hành vi chiếm dụng, chiếm đoạt tài sản thì trưởng đoàn, người ra quyết định thanh tra quyết định kiểm kê tài sản, hàng hóa.

Quyết định kiểm kê tài sản, hàng hóa phải bằng văn bản, trong đó ghi rõ tài sản, hàng hóa kiểm kê, thời gian, địa điểm tiến hành, trách nhiệm của những người tiến hành, nghĩa vụ của đối tượng có tài sản, hàng hóa kiểm kê. Việc kiểm kê tài sản, hàng hóa phải lập thành biên bản. Đối với tài sản, hàng hóa xét thấy cần giao cho cơ quan chức năng tạm giữ thì yêu cầu cơ quan đó thực hiện việc tạm giữ.

Khi xét thấy không cần thiết áp dụng biện pháp kiểm kê tài sản, hàng hóa thì người ra quyết định kiểm kê phải ra quyết định hủy bỏ ngay biện pháp đó. Việc kiểm kê tài sản, hàng hóa được thực hiện theo Mẫu số 17/TTr - ATTP; Quyết định về việc hủy bỏ biện pháp kiểm kê tài sản, hàng hóa được thực hiện theo Mẫu số 18/TTr - ATTP ban hành kèm theo Quyết định này.

B.B.Đ