Hiện nay, trên thế giới có khoảng 2,5 tỷ người chưa thể tiếp cận nhà vệ sinh phù hợp. Trong đó riêng tại Việt Nam, cũng mới chỉ 65% hộ gia đình khu vực nông thôn có nhà tiêu hợp vệ sinh, còn khoảng 16 triệu người vẫn đang sử dụng nhà tiêu không hợp vệ sinh. Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) nhằm khắc phục phần nào thực trạng này, từ đó giúp các hộ gia đình nâng cao chất lượng cuộc sống.

Hon 8,7 trieu cong trinh nuoc sach va ve sinh moi truong duoc xay dung tu von vay uu dai - Anh 1

Chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (NS và VSMTNT) được thực hiện qua hai giai đoạn: giai đoạn 1 (từ năm 2004 đến 2005) thực hiện thí điểm tại 10 tỉnh: Sơn La, Hải Dương, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa, Bình Thuận, Đắk Lắk, Tiền Giang, Kiên Giang; giai đoạn 2 (từ năm 2006 đến nay): thực hiện mở rộng ra tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

Để chương trình cho NS và VSMTNT phù hợp, sát với thực tế, ngày 3-3-2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2014/QĐ-TTg về sửa đổi, bổ sung Điều 3 của Quyết định số 62/2004/QĐ-TTg ngày 16-4-2004 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng thực hiện Chiến lược quốc gia về cấp NS và VSMTNT. Theo đó, đối tượng vay vốn là hộ gia đình định cư hợp pháp tại địa phương thuộc khu vực nông thôn chưa có nước sạch hoặc đã có nhưng chưa đạt quy chuẩn, chưa bảo đảm vệ sinh và hộ gia đình sau khi đã trả hết nợ vốn vay, có nhu cầu vay mới để xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp các công trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã sử dụng nhiều năm, bị hư hỏng, xuống cấp, không bảo đảm theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia được UBND cấp xã xác nhận. Mức cho vay tối đa là sáu triệu đồng/công trình/hộ. Với lãi suất được Thủ tướng Chính phủ quy định từng thời kỳ, hiện nay là 0,75%/tháng.

Trước đây, gia đình ông Nguyễn Huy Thịnh ở xóm 1, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc (Nghệ An) thường xuyên dùng nước giếng khơi. Biết nguồn nước không bảo đảm vệ sinh do ô nhiễm bởi các nguồn nước từ ao hồ, nước thải sinh hoạt, chất thải chăn nuôi... nhưng ông vẫn phải dùng để tắm giặt; còn việc sử dụng cho nấu ăn, nước uống, gia đình phải sử dụng nguồn nước mưa. Năm vừa rồi, gia đình ông Thịnh được NHCSXH huyện Nghi Lộc cho vay 12 triệu đồng từ nguồn vốn chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường, cùng kinh phí tự có, đã xây dựng được công trình nước sạch và vệ sinh môi trường đồng bộ, khép kín, gồm nhà tắm, nhà vệ sinh, bể lọc nước, bể chứa nước, bảo đảm nước sạch sinh hoạt cho cả gia đình. Không chỉ vậy, gia đình ông còn làm mô hình kinh tế VAC khép kín, xây dựng hệ thống biogas tận dụng chất thải trong chăn nuôi làm khí đốt.

Không những ở Nghệ An, ngay tại vùng cát trắng Quảng Bình, chính quyền địa phương cũng đặc biệt quan tâm tới sức khỏe người dân ở vùng sâu, vùng xa. Điển hình như huyện miền núi Minh Hóa, đã có hơn 63% số hộ gia đình được vay tiền. Bà con không dùng nguồn nước “tự nhiên” từ các khe suối nữa mà chuyển hẳn sang nguồn nước sạch để sinh hoạt. Hàng loạt nhà tiêu đạt chuẩn cũng được xây dựng góp phần giữ gìn vệ sinh môi trường chung quanh. Hay như đến với xã Yên Sơn, TP Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình có tỷ lệ người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt hơn 80%; tỷ lệ hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh được nâng lên, nhiều chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm được người dân đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải an toàn, sạch sẽ, góp phần cùng địa phương thực hiện tiêu chí về môi trường trong xây dựng nông thôn mới.

Như vậy có thể thấy, Chương trình cho NS và VSMTNT cũng đem lại nhiều lợi ích thiết thực về môi trường và chất lượng cuộc sống cho người dân trên địa bàn và góp phần hoàn thiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới, vì sức khỏe cộng đồng. Sau 12 năm thực hiện, đến hết ngày 31-10, doanh số cho vay của chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đạt 40.561 tỷ đồng với hơn năm triệu lượt khách hàng vay vốn, doanh số thu nợ đạt 16.919 tỷ đồng, dư nợ của chương trình là 23.631 tỷ đồng với hơn 2,5 triệu khách hàng. Thông qua cho vay vốn, các hộ gia đình đã xây dựng được 8,7 triệu công trình NS và VS; trong đó xây dựng 4,4 triệu công trình nước sạch và 4,3 triệu công trình vệ sinh. Nợ quá hạn chỉ có 37 tỷ đồng, chiếm 0,16% tổng dư nợ.