Một nghiên cứu mới đây của Viện Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) chỉ ra hiệu quả kinh tế rõ rệt khi sử dụng tro bay thay thế đất sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng, với điều kiện tro bay được hỗ trợ vận chuyển đến tận nhà máy sản xuất xi măng.

Hieu qua kinh te ro ret khi su dung tro bay thay the dat set - Anh 1

Biểu đồ tro xỉ thải theo Đề án của Bộ Công thương.

Nghịch lý từ giá vận chuyển

Từ những năm 90 của thế kỷ trước, Viện Vật liệu Xây dựng (VIBM) đã quan tâm và có những đề tài nghiên cứu sử dụng tro bay làm nguyên liệu sản xuất clanker. Tuy nhiên, việc sử dụng tro bay làm nguyên liệu sản xuất xi măng và vật liệu xây dựng (VLXD) còn hạn chế, do hiệu quả kinh tế không cao khi chi phí vận chuyển tro bay từ nhà máy nhiệt điện đến nhà máy sản xuất xi măng hay VLXD quá lớn. Do đó, nhiều khi nhà máy nhiệt điện muốn cho không tro bay hay xỉ đáy lò thì cũng không doanh nghiệp hay người dân nào muốn lấy.

Còn đối với những nhà máy có lợi thế về địa lý, chất lượng tro bay tương đối tốt thì người tiêu dùng muốn lấy phải bỏ ra hàng trăm nghìn một tấn.

Vì vậy, theo nghiên cứu cũng như quan sát của một số chuyên gia, doanh nghiệp và người dân, tro bay hay xỉ đáy lò của hệ thống các nhà máy nhiệt điện đang chạy, chủ yếu là đổ ra bãi chứa, số lượng tro xỉ được sử dụng làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất khác không nhiều.

Trong khi đó, dự báo nhu cầu sử dụng than theo năm của Bộ Công thương theo quy hoạch điện VII trên cơ sở suất tiêu hao than trung bình 0,5kg/kWh điện, số giờ chạy trng năm 6.000 giờ và độ tro trung bình cộng cả 3 loại 23,5%, cho thấy khối lượng tro xỉ thải ra từng năm ngày một tăng.

Nếu như năm 2012, lượng phát thải là 2,602 triệu tấn thì đến năm 2015 là 5,699 triệu tấn, năm 2020 là 15,073 triệu tấn và đến năm 2030 là 36,316 triệu tấn.

Năm 2014, Chính phủ đã ban hành Quyết định 1696 về các biện pháp xử lý tro xỉ của các nhà máy nhiệt điện, phân bón hóa chất. Quy định này đang gây “áp lực” buộc các nhà máy nhiệt điện, phân bón hóa chất phải có trách nhiệm với các phát thải trong quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, mặc dù quy định đã nếu rõ các nhà máy nhiệt điện, phân bón hóa chất phải có trách nhiệm hỗ trợ các đơn vị xử lý phát thải, nhưng đến nay dường như chưa có đơn vị xử lý phát thải nào nhận được sự hỗ trợ tài chính từ phía các nhà máy nhiệt điện, việc “cho không” hay hỗ trợ các điều kiện sản xuất kinh doanh khác cũng rất hạn chế.

Tiết giảm gần 30.000 đồng/tấn

Nghiên cứu mới đây của VIBM đã tính toán sơ bộ hiệu quả kinh tế của việc sử dụng tro bay thay thế nguyên liệu sản xuất xi măng. Tính toán này không tính chi tiết từng mục để cấu thành nên giá thành sản phẩm xi măng, mà tính chi phí để sản xuất 1 tấn clanker khi sử dụng tro bay thay thế sét so với chi phí 1 tấn clanker của nhà máy. Nghiên cứu áp dụng trực tiếp đối với Cty CP Xi măng Kiện Khê (Hà Nam) sử dụng tro xỉ của nhà máy nhiệt điện Phả Lại, (Hải Dương).

Theo tính toán, nếu sử dụng 1 tấn tro bay đơn giá 350.000 đồng/tấn, thay thế 1 tấn đất sét có đơn giá 50.000 đồng/tấn, đơn giá chi phí vật tư, chi phí nhân công và chi phí khấu hao thiết bị là như nhau, thì chênh lệch giá thành sản xuất clanker có sử dụng tro bay cao hơn so với sử dụng đất sét nung là 14.591 đồng/tấn, mặc dù giá tro bay cao hơn giá đất sét nung gấp 7 lần.

Theo chuyên gia của VIBM, khi sử dụng tro bay thay thế đất sét, than giảm được 5,5%, công suất lò tăng được 5,5% nên chi phí nhân công và khấu hao thiết bị cũng sẽ giảm tương ứng.

Tuy nhiên, nếu tro bay được hỗ trợ vận chuyển đến nhà máy (chỉ tính giá tro bay, không tính giá thành vận chuyển), có giá khoảng 110.000 đồng/tấn, thì chi phí sản xuất 1 tấn clanker có sử dụng tro bay 28.009 đồng/tấn. Con số này cho thấy hiệu quả kinh tế rõ rệt của việc sử dụng tro bay thay thế đất sét.

Ông Hà Văn Lân, Trung tâm xi măng bê tông, VIBM cho biết, sử dụng tro bay làm tăng hiệu quả nghiền lên khoảng 10% đối với máy nghiền bi, cải thiện được chất lượng clanker xi măng, có khả năng thay thế 100% sét (chú ý hàm lượng cacbon trong phối liệu), tăng năng suất lò lên khoảng 5,5%, giảm tiêu thụ nhiên liệu khoảng 5,5% khi sử dụng 9,5% tro bay có hàm lượng mất khi nung 15,5% trong phối liệu, tuy nhiên, sẽ găp khó khăn không đáng kể trong việc cấp liệu, cần giữ độ ẩm tro bay khi đưa lên silo 4-5%.

Tại Thái Nguyên, Cty CP Vật liệu không nung ATK Thái Nguyên đang sử dụng tro bay của Nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn, làm nguyên liệu sản xuất gạch không nung có hiệu quả kinh tế rõ rệt. Nhờ có sự hỗ trợ từ phía nhà máy Nhiệt điện Cao Ngạn như: cho không tro bay, hỗ trợ vị trí sản xuất, giá mỗi viên gạch của ATK Thái Nguyên được bán ra thấp hơn nhiều so với giá gạch đỏ, giá khoảng 830 đồng/viên trong khi giá gạch đỏ là 1.200 đồng viên, cùng tiêu chuẩn kích thước.

Thanh Nga