(TNO) Một số thói quen do vô ý của người lớn có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, trong đó có thói quen rung lắc trẻ gây ra những tổn thương não do rung lắc mạnh trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ.

Trẻ sơ sinh rất nhạy cảm, cho nên cần cẩn thận để tránh tổn thương trẻ - Ảnh: Shutterstock

Phụ huynh sơ ý trẻ dễ tổn thương

Theo bác sĩ Nguyễn Duy Long, khoa Huyết học, Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM), trẻ em, đặc biệt ở trẻ sơ sinh, có đầu lớn và nặng (chiếm 25% cơ thể), cổ yếu khó chịu được sức nặng của đầu, trong khi xương sọ mềm, màng não mỏng, có khoảng trống giữa não và xương sọ nên rất dễ bị tổn thương.

Vì thế, nếu bị rung lắc thì trẻ rất dễ gặp nguy hiểm. Bác sĩ Duy Long cho hay, nhiều phụ huynh bế xốc trẻ trong tư thế đứng, do cổ bé yếu nên sẽ dễ di chuyển theo hướng trước sau. Có phụ huynh thường lắc võng, đưa nôi cho trẻ trong trường hợp trẻ khóc quá nên nóng ruột hoặc bực bội rồi cố ru, cố lắc mạnh để làm cho trẻ nín. Cũng có trường hợp cha mẹ cưng nựng nên nhồi xốc bé, bồng bé đưa lên đưa xuống nhanh, ẵm bé đưa lên cao làm máy bay. Những hành động trên dễ gây ra hội chứng rung lắc ở trẻ.

Hội chứng này xảy ra khi trẻ bị rung lắc thì lực rung sẽ chuyển tới não và làm tổn thương não gây ra chấn thương trực tiếp làm rách mạch máu, gây xuất huyết dưới màng nhện, dưới màng cứng, trong nhu mô não. Lực tăng tốc làm cho não bị dội trở lại, đập vào xương sọ, gây dập não, xuất huyết, phù não.

Những tổn thương do rung lắc để lại di chứng nặng nề như làm trẻ bị chậm phát triển trí tuệ, rối loạn hành vi nói và nghe, động kinh, rối loạn kỹ năng định hướng, giảm khả năng nhận thức, ảnh hưởng tới mắt thì có thể làm trẻ giảm thị lực, gây mù.

"Bên cạnh đó còn gây tổn thương mắt trẻ như xuất huyết nhãn cầu, xuất huyết võng mạc, phù gai hoặc có thể gây chấn thương các bộ phận khác như cổ, cột sống, xương sườn", bác sĩ Long cho biết.

Di chứng nặng nề

Những tổn thương do rung lắc để lại di chứng nặng nề như làm trẻ bị chậm phát triển trí tuệ, rối loạn hành vi nói và nghe, động kinh, rối loạn kỹ năng định hướng, giảm khả năng nhận thức, ảnh hưởng tới mắt thì có thể làm trẻ giảm thị lực, gây mù. Đáng lưu ý, có những tổn thương kéo dài và chỉ phát hiện được khi trẻ đã lớn nên phải điều trị chuyên sâu, lâu dài và tốn kém.

"Tùy theo mức độ tổn thương có thể làm trẻ chậm phát triển trí tuệ, rối loạn hành vi nói và nghe, động kinh, rối loạn kỹ năng định hướng, giảm khả năng nhận thức, giảm thị lực... trong đó nhiều tổn thương kéo dài chỉ phát hiện được khi trẻ đã lớn", bác sĩ Nguyễn Duy Long cho biết.

Do đa số triệu chứng của hội chứng rung lắc là không rõ ràng nên phụ huynh cần để ý những triệu chứng bất thường như bứt rứt, quấy khóc, đờ đẫn, lơ mơ, ngủ mê, trương lực cơ giảm, da xanh tái, nhất là ở vùng trán, ăn khó, bú khó, nuốt khó hoặc ói, khó thở, ngừng thở hoặc co giật. Ngoài ra, cha mẹ có thể để ý đến các chấn thương ở cổ như sưng, phù nề, cứng cổ, nghẹo cổ về một bên, đầu khó quay qua quay lại.

Khi trẻ có những biểu hiện như trên, phụ huynh hãy nhanh chóng gọi xe cấp cứu, tuyệt đối không vận chuyển bằng xe thông thường. Ngoài ra, không được bế xốc trẻ lên, không cố lắc để làm cho trẻ tỉnh lại.

“Không cho trẻ ăn, bú, nếu trẻ ngừng thở phải hô hấp nhân tạo. Nếu chấn thương cổ : tránh xoay trẻ, cố định cổ. Nếu trẻ nôn và không có chấn thương cổ thì xoay nhẹ đầu trẻ về một bên để tránh sặc và ngừng thở”, bác sĩ Long lưu ý.

Ngoài ra, trong lúc chơi với trẻ, phụ huynh tuyệt đối không rung lắc trẻ, kể cả khi vui đùa hay giận dữ, khi trẻ thức hay khi trẻ ngủ. Khi di chuyển trẻ, hãy cố gắng giữ cổ ở tư thế cố định.

Hà Minh