Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng 2020.

Hang ngan cuoc kiem tra chuyen nganh, phat hien vi pham tren dau ngon tay - Anh 1

Ảnh minh họa.

Tại công văn này, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá, trong số các Bộ được giao nhiệm vụ cải cách các quy định pháp luật về quản lý chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương là Bộ có số văn bản được nêu nhiều nhất, nhưng lại ít có sự chuyển biến. Những vướng mắc lớn nhất về quản lý, kiểm tra chuyên ngành hiện nay hầu như tập trung chủ yếu tại các quy định của Bộ Công Thương.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nêu trường hợp về việc kiểm tra formaldehyte và amin thơm trên các sản phẩm dệt may đã thực hiện từ 2009 căn cứ theo các Thông tư 32/2009/TT-BCT và Thông tư 37/2015/TT-BCT của Bộ Công Thương. Theo đó, đánh giá, việc kiểm tra này ảnh hưởng lớn đến hai ngành sản xuất, xuất khẩu lớn của Việt Nam, với hàng nghìn doanh nghiệp, hàng triệu lao động là dệt may và da giày. Trong 7 năm qua, các doanh nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn, bức xúc với quy định này, nhiều lần kiến nghị sửa đổi, nhưng không được chấp nhận.

Thực tiễn áp dụng quy định này cho thấy, chỉ có một tỷ lệ nhỏ không đáng kể lô hàng không đạt hàm lượng quy định. Hơn nữa, cũng chưa phát hiện bất cứ trường hợp nào bị ảnh hưởng về sức khỏe do hàm lượng formaldehyte cao quá mức quy định.

Theo thống kê của Hải quan sân bay Tân Sơn Nhất, từ khi thực hiện Thông tư 32/2009/TT-BCT đến năm 2015, mỗi năm có khoảng 8000 lô hàng sản phẩm dệt may làm thủ tục nhập khẩu tại đơn vị này phải kiểm tra hàm lượng formaldehyte, nhưng chỉ có 6 trường hợp (0,0125%) không đáp ứng hàm lượng quy định.

Trong khi đó, 7 năm qua, doanh nghiệp phải trả chi phí hàng trăm tỉ đồng cho việc kiểm tra, và thời gian thông quan hàng hóa kéo dài.

Ngoài ra, nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật cũng cho thấy việc ban hành Thông tư 37/2015/TT-BCT về kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm là thiếu cơ sở pháp lý, không tuân thủ quy định của Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa (Khoản 2 Điều 70).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị, trên cơ sở rà soát các văn bản pháp lý và từ thực tiễn kiểm tra formaldehyte trong những năm qua, kiến nghị Thủ tướng chính phủ chỉ đạo Bộ Công thương nghiên cứu bãi bỏ Thông tư này và thay thế bằng phương thức quản lý khác hiệu lực và hiệu quả hơn.

Từ sự việc Bộ Công thương mở rộng Danh mục hàng hóa nhóm 2 quá phạm vi quy định của Luật, đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ rà soát Danh mục hàng hóa nhóm 2 của các Bộ quản lý chuyên ngành để yêu cầu loại bỏ những mặt hàng mà các Bộ này đã mở rộng quá phạm vi cho phép của luật.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, việc kiểm tra hiệu suất và dán nhãn năng lượng tối thiểu được điều chỉnh bởi Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng là vấn đề vướng mắc và gây bức xúc nhất hiện nay cho doanh nghiệp và cả cơ quan hải quan.

Cụ thể, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị phải thực hiện thủ tục 2 giai đoạn do 2 đơn vị khác nhau thực hiện: vừa phải thủ tục thử nghiệm tại các tổ chức đánh giá sự phù hợp do Bộ Công thương chỉ định, kéo dài hàng tháng, chi phí lớn, nhiều sản phẩm phải kiểm tra phá hủy (bao gồm cả những mặt hàng giá trị cao của các thương hiệu nổi tiếng thế giới); vừa phải xin cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng (một loại giấy phép) ở Bộ Công thương (Tổng cục năng lượng) với vô vàn khó khăn, phức tạp, tốn kém chi phí.

Quy định 2 giai đoạn cũng được đánh giá là không cần thiết, làm tăng thủ tục, thời gian, chi phí cho doanh nghiệp. Trên thực tế, việc cấp giấy chứng nhận dán nhãn hoàn toàn dựa trên hồ sơ và kết quả thử nghiệm, có thể giao cho tổ chức thử nghiệm đảm nhiệm, theo đó, có thể bỏ giai đoạn cấp giấy chứng nhận dán nhãn tại Tổng cục Năng lượng.

Thông tư 07 quy định việc thử nghiệm và cấp giấy chứng nhận dán nhãn được thực hiện đối với từng lô hàng. Với quy định này, hầu hết các doanh nghiệp và đơn vị Hải quan đều không đồng tình với quy định này và cho rằng, quản lý hiệu suất năng lượng là quản lý đối với hàng hóa, chứ không phải là quản lý doanh nghiệp nhập khẩu. Thay vì phải cấp giấy chứng nhận cho mặt hàng, Bộ Công thương lại quy định cấp cho từng lô hàng, dẫn tới một mặt hàng/model hàng phải thử nghiệm, cấp giấy chứng nhận nhiều lần, gây phiền hà, tốn kém chi phí và thời gian cho doanh nghiệp, cho xã hội.

Về thái độ của cán bộ công chức liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận dán nhãn năng lượng (Tổng cục năng lượng, Bộ Công Thương), doanh nghiệp bức xúc với cách làm việc mập mờ, thiếu minh bạch của cán bộ. Cụ thể là: gửi hồ sơ qua bưu điện thì không trả lời; gửi hồ sơ trực tiếp không có phiếu hẹn ngày trả kết quả, thậm chí không ký nhận; doanh nghiệp thường phải sử dụng hình thức qua trung gian hoặc trả chi phí không chính thức.

Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị Bộ Công Thương bỏ thủ tục “Xác nhận khai báo hóa chất” nhập khẩu do thực tiễn 8 năm thực hiện Luật Hóa chất chưa phát hiện bất cứ trường hợp nào vi phạm quy định Khai báo hóa chất, nhưng thủ tục này đã gây tốn kém chi phí và thời gian của doanh nghiệp.

Từ năm 2015, phí xác nhận khai báo hóa chất là 100.000 đồng/Giấy xác nhận khai báo hóa chất nhập khẩu, 200.000 đồng/ Giấy xác nhận khai báo hóa chất sản xuất. Theo một khảo sát độc lập năm 2015, mỗi năm Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) cấp khoảng trên 50.000 Giấy xác nhận khai báo hóa chất, mất thời gian trung bình từ 12-14 ngày/lô hàng. Như vậy, việc xác nhận khai báo hóa chất theo quy định hiện hành đã làm mất thời gian của doanh nghiệp và khoản chi phí chính thức vào khoảng 5-10 tỷ đồng/năm.

Nguồn: Dân trí

Xem thêm: