Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, một vụ nổ mạnh gấp hai lần quả bom nguyên tử hủy diệt thành phố Hiroshima của Nhật đã suýt xảy ra ở Hải Phòng.

Mỹ ném bom tàu vận tải Liên Xô ở các cảng Việt Nam

Bắt đầu vào mùa xuân năm 1965, những con tàu chở hàng Liên Xô thường xuyên đưa hàng hóa quân sự-kỹ thuật và kinh tế đến bờ biển miền Bắc Việt Nam, đặc biệt là các hải cảng của Hải Phòng và Quảng Ninh.

Trong cuối hồi ký của mình, ông Nikolai Kovalev - đại diện đầu tiên của Bộ Hàng hải Liên Xô ở Việt Nam cho biết, ông đã đến Hải Phòng vào khoảng giữa tháng 10 cùng năm, tại văn phòng được thành lập theo thỏa thuận giữa hai Chính phủ ký năm 1965.

Trong thời kỳ đầu Mỹ leo thang chiến tranh, tiến hành chiến dịch ném bom rộng khắp toàn miền Bắc Việt Nam, hàng tháng có tới 40 tàu Liên Xô hoạt động trên các tuyến đường biển, trên hành trình dài từ 10 đến 45 ngày để đưa hàng hóa đến Hà Nội, Cẩm Phả và Hòn Gai.

Ở vịnh Bắc Bộ, máy bay và tàu chiến Mỹ không ngừng tìm cách cản trở tàu hàng Liên Xô. Máy bay Mỹ tiến hành những cú bay thấp nguy hiểm mô phỏng đòn tấn công, ép các tàu đi lệch hướng. Việc vào các cảng của Việt Nam cũng là thực tế đầy nguy hiểm đối với các tàu Liên Xô.

Ngày 20/10, ông đã chứng kiến các chiến sĩ tên lửa Liên Xô tiêu diệt máy bay trinh sát Mỹ, chiếc máy bay Mỹ đầu tiên bị bắn rơi trên đất Hải Phòng. Tổng cộng cho đến khi ông rời Việt Nam năm 1968, ông đã chứng kiến 211 con “chim kền kền” Mỹ bị tiêu diệt trên bầu trời thành phố cảng.

Ông Nikolai Kovalev hồi tưởng, cảng Hải Phòng khi ấy mới có sáu bến tàu trong đó chỉ ba bến có thể tiếp nhận tàu biển độ mớn nước đến 8m.

Các bến không có cần cẩu và phương tiện bốc dỡ. Hàng hóa từ tàu được vận chuyển bằng xe tải hoặc xà lan đường sông. Kho bãi cũng nhỏ cộng với sự hạn chế mặt bằng ảnh hưởng xấu đến tiến độ xử lý hàng. Một trở ngại nữa là biến động của mực nước thủy triều lên tới 4 mét.

Hai Phong suyt bi may bay My huy diet nhu the nao? - Anh 1

Máy bay Mỹ ném bom Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

Nhưng vấn đề chính làm giảm tốc độ bốc dỡ là những vụ không kích của máy bay Mỹ. Thời gian đầu, sự hiện diện của tàu vận tải Liên Xô là yếu tố bảo vệ các cảng không bị ném bom. Nhưng chẳng bao lâu sau, những kẻ xâm lược coi nhẹ cả điều này.

Ngày 19 tháng 4 năm 1966, máy bay Mỹ đã ném bom cảng than Cẩm Phả. Hôm đó, tàu Salsk của Liên Xô đang đậu trong bến. Ngày 15 tháng 2 năm 1967, một cuộc không kích tiếp theo xảy ra khi tàu Khorol bốc than tại cảng Cẩm Phả, các tàu Tylmat và Mongugay đang đứng trong vũng tàu.

Ngày 14/3/1967, trong cuộc không kích vào Hải Phòng, một quả tên lửa bắn từ máy bay đã bay trên tàu Mozhaisk đậu ở bến tàu và phát nổ cách tàu khoảng 200 mét.

Ngày 24/4 cùng năm, một tên lửa của Mỹ phát nổ dưới nước, cách không xa các tàu Balashikha, Magnitogorsk và Leninogorsk.

Từ ngày 12 đến 26/4/1967, tàu Công nhân Bryansk thả neo trên sông Bạch Đằng. Trên tàu là 96 tấn đạn pháo phòng không. Các máy bay Mỹ vượt tốc độ âm thanh ở độ cao thấp chao lượn trên con tàu, ném các thùng chứa tên lửa cách tàu không xa nhưng không dám cả gan tấn công tàu.

Ngày 10 tháng 5 năm 1967, gần 30 chiếc máy bay Mỹ đã đánh bom nhà máy xi măng, kho chứa dầu và kho bãi của cảng Hải Phòng, trong khi đó các tàu Simferopol, Bakuriani, Nagaevo và Kur của Liên Xô khi ấy đứng cách bến đậu chỉ khoảng 300 mét.

Trong cuộc không kích đó, đã có tới bốn máy bay Mỹ đã bị các tên lửa Liên Xô nằm trong thế trận phòng không bảo vệ Hải Phòng bắn hạ. Ngày 29 tháng 6 năm 1967, hai máy bay Mỹ đã trực tiếp gây hư hại cho tàu Mikhail Frunze đang đậu trong cảng Hải Phòng.