(VEN) - Bằng những thành quả nghiên cứu ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn ngành chăn nuôi cũng như tinh thần chủ động làm chủ khoa học công nghệ, Viện Chăn nuôi không chỉ góp phần phát triển một nền chăn nuôi bền vững, có hiệu quả mà còn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về số lượng chất lượng sản phẩm chăn nuôi trong môi trường toàn cầu hóa…

Viện Chăn nuôi là tổ chức khoa học công nghệ thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thực hiện chức năng nhiệm vụ chọn lọc và sử dụng tốt nguồn gen vật nuôi trong nước và nhập ngoại cũng như nghiên cứu tạo nguồn thức ăn và phương thức chế biến, sử dụng các loại thức ăn phù hợp với đối tượng vật nuôi.

Viện còn là “cái nôi” của các công trình nghiên cứu công nghệ sinh học phục vụ công tác chọn giống và nuôi dưỡng vật nuôi, đồng thời triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển chăn nuôi; tham gia chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và đóng góp cho việc hoạch định chính sách phát triển chăn nuôi bền vững của Nhà nước.

Về công tác giống gia súc gia cầm, thời gian qua Viện đã nghiên cứu chọn tạo được một số giống gia súc gia cầm có năng suất cao phục vụ sản xuất. Đặc biệt có thể kể đến là tổ hợp lai 3-4 máu giữa các giống lợn ngoại (LR, Y, Duroc) có nguồn gốc từ Mỹ; 2 nhóm lợn nái (L71 và L72) và 2 nhóm đực tổng hợp chất lượng cao (L64 x L06) và (L06 x L19); bốn dòng vịt siêu thịt (T5, T6 và V5, V7), dòng vịt siêu trứng TC, 5 dòng vịt hướng thịt (MT1, MT2, V12, V17,CB1 & CB2), 4 dòng vịt hướng trứng (VCL1, CVL4, K1 & C1) và các dòng ngan VS, V5,V7…

Nhằm không ngừng bảo tồn nguồn gen động vật và cây thức ăn chăn nuôi, đến nay Viện đã triển khai bảo tồn được 46 giống vật nuôi bản địa; 60 giống cỏ và cây thức ăn chăn nuôi nhập nội và bản địa. Có thể kể đến như việc lai tạo được một số giống lợn đặc sản như: lợn lửng, lợn bản, lợn 14 vú, lợn Lũng Pù… và nhân giống đàn bò hạt nhân HF thuần trong tháp giống bò sữa 5190-5325 kg/CK, đàn bò đực giống có chất lượng tinh tốt, đàn bò sữa HF lai hạt nhân cao sản.

Trong công tác nghiên cứu dinh dưỡng và thức ăn chăn nuôi, viện đã tiến hành nghiên cứu để xác định được nhu cầu năng lượng thuần cho duy trì của bê cái lai F2 HF, sản xuất hỗn hợp khoáng KL-01 để phòng chống bệnh sát nhau và bại liệt ở bò. Viện cũng nghiên cứu tuyển chọn được mười tám giống cây thức ăn xanh nhiệt đới, phục vụ đắc lực cho việc xây dựng quy trình sử dụng nguồn thức ăn sẵn có vỗ béo bê, bò; giải quyết hiệu quả vấn đề trong sử dụng nguồn thức ăn sẵn có.

Về công nghệ sinh học, Viện thực hiện thành công việc tách chiết ADN của bò hoang dã; xác định được sự sai khác di truyền của các giống gà nội và các nhóm bò vàng địa phương cũng như phân tích được mối quan hệ huyết thống trong quần thể bò bằng kỹ thuật Microsatellite.

Với đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, Viện Chăn nuôi đã hoàn toàn làm chủ một số kỹ thuật khó như: kỹ thuật cắt phôi bằng phương pháp cắt và nuôi phôi in vitro sau khi cắt; kỹ thuật nuôi cấy, đông lạnh tế bào fibroblast của bò thịt, bò sữa cao sản; kỹ thuật thụ tinh nhân tạo ngan, vịt; kỹ thuật phân lập, đánh giá, tuyển chọn và sử dụng vi sinh vật…/.

Ngọc Anh