Diện tích rừng giao cho người dân quản lý bảo vệ luôn xanh tốt. Cộng đồng dân cư ở các làng xem việc giữ rừng như một phần không thể tách rời trong đời sống sinh hoạt và lao động.

Rừng được bảo vệ, đời sống người dân cũng được nâng lên nhờ vào số tiền chi trả từ dịch vụ môi trường rừng.

Cả làng giữ rừng

Khi những con gà rừng chưa kịp cất tiếng gáy báo hiệu một ngày mới, người dân làng Pẹk, xã Ia Bă, huyện Ia Grai (Gia Lai) đã tập trung đông đủ, trật tự trước nhà rông nằm ở giữa làng. Đứng phía trên đối diện với dân làng là Kpuih HNghinh và Kpuih Hlu đang cúi gầm mặt, không dám nhìn về phía đám đông.

Giu mau xanh cho lang - Anh 1

Phút nghỉ ngơi sau một buổi đi tuần rừng của người dân làng Pẹk

Già làng Kuih Nhen thông báo với dân làng, 2 người này đã lấn chiếm đất rừng, lén lút xâm hại rừng mà cộng đồng làng đã hợp đồng nhận khoán quản lý bảo vệ để lấy đất làm rẫy. Trước sự thành khẩn, hối lỗi của HNghinh và Hlu, già làng Kpuih Nhen cùng dân làng quyết định trừ tiền dịch vụ môi trường rừng của những hộ này, mua cây giống bắt họ trồng lại khoảnh rừng đã phá trước đó.

Già làng Nhen cho hay, nhiều năm nay cộng đồng làng Pẹk hợp đồng nhận khoán bảo vệ hơn 2.228ha rừng từ Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai (huyện Ia Grai). Hơn 205 hộ dân làng Pẹk từ lâu đã xem việc giữ rừng như một phần không thể tách rời trong đời sống. Nếu người dân nào cố tình vi phạm sẽ bị luật làng phân xử.

Cũng như làng Pẹk, gần 100 đàn ông, người lớn của làng Klah (xã Kon Chiêng, huyện Mang Yang, Gia Lai) chia thành 5 tổ (mỗi tổ từ 16 đến 20 người) thay phiên nhau đi tuần tra bảo vệ rừng. Từ nhiều năm nay, khi làng được giao khoán quản lý, bảo vệ gần 400ha rừng thì những chuyến đi tuần tra rừng trở nên quen thuộc với người dân làng Klah.

Mới hơn 5 giờ sáng, già làng Đinh Hip và con trai Đinh Hưt đã thức dậy, lục đục nấu cơm, nướng cá khô, chuẩn bị thức ăn, nước uống cho chuyến đi rừng. Trưởng thôn làng Klah, Đinh Hưt cho biết, với vai trò trưởng ban quản lý rừng cộng đồng của làng, anh đã tổ chức họp dân, thông báo đây là diện tích rừng mà làng được giao đất, giao rừng chăm sóc, quản lý và bảo vệ.

Giu mau xanh cho lang - Anh 2

Những cánh rừng được người dân bảo vệ giữ được màu xanh tốt

Nhà nước giờ đã hỗ trợ tiền giữ rừng nên dân làng không được chặt phá cây, lấn đất rừng làm nương rẫy. Người dân làng Klah ai nấy đều đồng thuận, lập ra quy ước nghiêm cấm mọi hoạt động phát, đốt phá rừng làm rẫy; khai thác lâm sản phụ sai quy định.

Ngồi dưới tán rừng xanh mát, lấy vội điếu thuốc ra đốt sau 1 buổi đi tuần, ông Đinh Chhưng - người dân trong nhóm bảo vệ rừng, chia sẻ: “Lúc trước, cứ mỗi tháng vào ngày 15 và 30, chúng tôi tổ chức đi tuần. Những kẻ xấu nắm bắt được quy luật này nên rừng vẫn bị xâm hại. Rút kinh nghiệm, người dân làng Klah không quy định ngày nào cụ thể mà có thể đi bất cứ lúc nào mà trưởng nhóm thông báo”.

Theo trưởng thôn Đinh Hưt, những năm trước việc lấn chiếm đất rừng làm nương rẫy, chặt cây về làm củi của người dân trong làng diễn ra thường xuyên. Nhưng từ lúc được giao rừng, nhận tiền dịch vụ môi trường rừng thì tình trạng này đã không còn. Số tiền dịch vụ môi trường rừng nhận được, thôn trưởng Hưt chia đều cho các hộ dân trong làng.

Đối với những người “lỡ quên” hương ước làng, chặt phá cây rừng, đốt nương rẫy, lấy mật ong không đúng quy định… đều bị làng nhắc nhở, xử phạt bằng cách cắt khoản tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, đồng thời đưa ra kiểm điểm trước thôn làng.

Giảm nghèo bền vững

Ông Võ Đình Huy - Phó Chủ tịch UBND xã Kon Chiêng (huyện Mang Yang) đánh giá, tính cộng đồng của người dân trong việc giữ rừng rất cao, đặc biệt là những hộ dân sống gần rừng. Mỗi khi rừng bị xâm hại, những hộ dân này sẽ nhanh chóng phát hiện và thông báo chính quyền.

“Diện tích rừng được người dân làng Klah bảo vệ luôn giữ được màu xanh tốt, không cây nào bị xâm hại. Chúng tôi đã khảo sát và sắp tới sẽ đề xuất nhân rộng mô hình này bằng hình thức ký hợp đồng giao khoán đối với cộng đồng người dân 2 làng Ktu và Deng”, ông Huy cho biết.

Một lý do khác cũng được ông Huy chia sẻ: Hiện tại, UBND xã quản lý bảo vệ hơn 1.200ha rừng. “Diện tích rừng lớn, nhưng người giữ rừng lại ít, chủ yếu là các cán bộ đoàn thể của xã kiêm nhiệm. Chỉ có sức mạnh cộng đồng thì rừng mới không bị xâm hại. Rừng được giữ cũng nhờ vào chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng hỗ trợ kịp thời cho người dân”, ông Huy khẳng định.

Giu mau xanh cho lang - Anh 3

Trên đường tuần tra rừng

Tương tự, ông Nguyễn Trường Hải - Trưởng Ban quản lý rừng phòng hộ Bắc Ia Grai (huyện Ia Grai) xác nhận, chính sách chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân sống gần rừng, nhất là đối với người dân tộc. “Qua kiểm tra rừng, chúng tôi cho rằng nên tăng cường việc giao khoán đối với các hộ dân sống gần rừng, người dân vừa có thu nhập mà môi trường sinh thái rừng cũng bền vững hơn”.

Theo ông Hải, trong diện tích gần 15.000ha rừng cung ứng đã hợp đồng giao khoán cho 6 làng trên địa bàn huyện với diện tích hơn 7.604ha, trong đó làng Pẹk có diện tích lớn nhất với 2.228ha. Đặc biệt, ở những khu vực rừng gần dân, gần làng, nơi xung yếu, dễ bị xâm hại, Ban Quản lý cũng tin tưởng giao khoán cho người dân.

Bàn về vấn đề này, ông Võ Văn Hạnh - Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Gia Lai đề xuất, để nâng cao hiệu quả việc giao đất, giao rừng hay hợp đồng giao khoán cho các cộng đồng dân cư thôn thì những ngành liên quan cần triển khai tốt Nghị định 75/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ người dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2020. Việc khoán quản lý bảo vệ rừng đối với các hộ dân tộc thiểu số sống gần rừng được nâng lên 400.000 đồng/ha/năm (hạn mức nhận khoán tối đa là 30 ha/hộ).

Ngoài ra, Nghị định này còn quy định việc hỗ trợ người dân bằng các chính sách tín dụng như cho vay trồng rừng sản xuất (15 triệu đồng/ha), vay phát triển chăn nuôi với mức lãi suất 1,2%/năm (tối đa 50 triệu đồng, thời hạn 10 năm); trợ cấp gạo trồng rừng thay thế nương rẫy (15kg gạo/khẩu/tháng, tối đa không quá 7 năm)... “Nếu lồng ghép nguồn lực giữa tiền dịch vụ môi trường rừng và ngân sách thì chính sách này có khả năng thực thi rất cao”, ông Hạnh khẳng định.

Ngoài ra, tỉnh Gia Lai có nhiều diện tích rừng do UBND các xã quản lý còn lớn, xấp xỉ 150.000ha (nhiều xã có diện tích quản lý hơn 20.000ha), chưa đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong công tác quản lý bảo vệ rừng. Trong khi đó, các địa phương đánh giá cộng đồng dân cư thôn tại các làng tham gia giữ rừng rất tốt.

Ông Võ Văn Hạnh, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng: “Hiện trên địa bàn tỉnh Gia Lai có 25 cộng đồng dân cư thôn được giao khoán quản lý bảo vệ rừng. Trong đó, 9 cộng đồng thuộc các tổ chức của nhà nước; 9 cộng đồng thuộc UBND các xã và 7 cộng đồng dân cư thôn là chủ rừng (được UBND huyện cấp sổ đỏ). Thu nhập bình quân 4,5 triệu đồng/người/năm đối với cộng đồng dân cư thôn thuộc các tổ chức nhà nước và 2,2 triệu đồng/người/năm đối với cộng đồng dân cư các xã. Tuy thu nhập chưa cao nhưng đây là nguồn lực có ý nghĩa quan trọng đối với việc xóa đói giảm nghèo, góp phần cải thiện sinh kế cho người dân”.