Nhu cầu dầu thô trên thị trường quốc tế chưa có sự thay đổi lớn, bởi yếu tố chính đẩy giá dầu tăng lên vẫn là các chỉ số chứng khoán Mỹ đang mạnh hơn và giá trị đồng USD suy yếu.

Giá dầu trung bình hàng tuần của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) tiếp tục tăng và chốt ở mức 65,72 USD/thùng hồi cuối tuần trước, tăng 4,11USD. Tổ chức này vừa cho biết hôm 27/7. Thiếu lực Giá dầu thô trên thị trường New York đã tăng 3 tuần liên tiếp. (Ảnh: Corbis) Kể từ ngày 13/7 tới nay, giá dầu hàng ngày của OPEC hầu như tăng liên tục, chỉ giảm giá duy nhất một lần hôm 22/7. Đặc biệt, ngày 24/7, giá dầu trung bình hàng ngày của OPEC đã vọt lên mức 67,80 USD/thùng. Các nhà phân tích tin rằng, nhu cầu trên thị trường dầu thô quốc tế chưa có sự thay đổi lớn, bởi yếu tố chính thúc đẩy giá dầu tăng lên vẫn là các chỉ số chứng khoán Mỹ đang mạnh hơn và giá trị đồng USD suy yếu. Theo số liệu được ghi nhận, chỉ số công nghiệp Dow Jones hôm 23/7 đã phá ngưỡng 9.000 điểm, lần đầu tiên kể từ tháng 1, chủ yếu là nhờ niềm tin của giới đầu tư vào sự phục hồi kinh tế tăng lên, sau thông tin lợi nhuận quý 2 của một số hãng lớn như Apple hay Intel cao hơn dự báo của các chuyên gia. Trong số các công ty thuộc chỉ số S&P 500 đã công bố kết quả kinh doanh quý 2, 75% có lợi nhuận vượt dự báo. Trong khi đó, việc đôla Mỹ tiếp tục suy yếu kể từ đầu tháng 6 tới giờ, cũng là một nhân tố quan trọng làm giá dầu tăng lên. Tuần qua, đồng USD đã rơi xuống mức thấp nhất trong vòng 7 tuần so với Euro. Phiên giao dịch cuối tuần tại thị trường New York, đồng USD giảm giá 0,7% xuống 1,4202 USD/Euro, từ mức 1,4102 USD/Euro thiết lập ngày 17/07. Đồng USD chạm mức 1,4291 USD/Euro hôm 23/07, mức thấp nhất từ ngày 3/6. Tuy nhiên, nhìn chung, giới phân tích tin rằng kinh tế thế giới vẫn chưa hồi phục, thậm chí có không ít ý kiến nhận định đáy suy thoái vẫn còn xa. Suy thoái vẫn chưa chạm đáy Phát biểu tại cuộc họp báo sau Hội nghị thượng đỉnh G8 diễn ra ở Italia mới đây, Tổng thống Mỹ Barack Obama cho hay, các nước G8 thống nhất rằng sự phục hồi đầy đủ vẫn còn rất xa và hiện quá sớm để bắt đầu khép lại các kế hoạch kích thích kinh tế. Theo Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Pascal Lamy, tình trạng tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng xét về mặt xã hội vẫn chưa xảy ra. Điều đó có nghĩa là sự tồi tệ nhất của khủng hoảng xét về khía cạnh chính trị còn ở phía trước. Vẫn có nhiều ý kiến trái chiều về khả năng phục hồi kinh tế toàn cầu. (Ảnh: Corbis) Đối với nhiều nhà phân tích, "tín dụng" là nhân tố chính giúp quyết định mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào. Các nhà kinh tế của hãng nghiên cứu UniCredit nhận định, triển vọng tín dụng là mối đe dọa lớn, có thể đẩy đà phục hồi yếu ớt mà chúng ta đang mong đợi vào một cơn ác mộng tín dụng tồi tệ nhất. Còn nhà kinh tế Thorsten Polleit, thuộc hãng Barclays Capital, thì nhận xét rằng, tín dụng đang cạn kiệt và các luồng tín dụng khó có thể lại tiếp tục tuôn chảy dễ dàng trên toàn cầu như hai năm trước - một hiện tượng được coi là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khủng hoảng tài chính-kinh tế hiện nay. Sự kết thúc của bùng nổ tín dụng về cơ bản sẽ làm thay đổi cấu trúc sản xuất của các nền kinh tế chủ chốt. Nhờ các khoản vay và cứu trợ tài chính từ chính phủ và ngân hàng trung ương, hệ thống ngân hàng thế giới hiện đã khá hơn so với thời điểm sau khi ngân hàng đầu tư Lehman Brothers của Mỹ sụp đổ hồi giữa tháng 9/2008. Song, lượng tiền mặt đến tay các doanh nghiệp vẫn còn quá ít ỏi. Nhà kinh tế Gilles Moec nói: "Hiện vẫn chưa rõ các gói kích thích tiền tệ sẽ được chuyển cho người tiêu dùng và các nhà đầu tư như thế nào". Theo ông, nhân tố phục hồi chủ chốt thứ hai là các chính phủ quản lý các gói kích thích như thế nào để ngăn chặn tình trạng suy giảm hiện nay trở thành đại suy thoái. Ông Moec cho rằng, nếu cả hai cách này đều có khuyết điểm, thì đây sẽ là thông tin xấu. Điều rất quan trọng là các biện pháp kích thích của chính phủ phải được thay thế bằng tăng trưởng bền vững từ bên trong hệ thống kinh tế. Tuy nhiên, sự phục hồi toàn cầu chắc chắn sẽ diễn ra, cho dù hầu hết giới phân tích sử dụng những từ như "mảnh mai, vừa phải" hoặc "nhẹ" để miêu tả nó. Hồi phục kinh tế Mỹ mới chỉ là dự báo Quá trình phục hồi kinh tế Mỹ không thể diễn ra trong một sớm một chiều. (Ảnh: Corbis) Khi nhận định về nền kinh tế đầu tàu, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), ông Ben Bernanke, trong bài phát biểu mới nhất đã nói rằng đang có những dấu hiệu cải thiện, nhưng sự hồi phục sẽ phải mất một khoảng thời gian nữa. GDP sẽ tăng vào thời điểm cuối năm nay hoặc đầu năm tới, nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ có thể sẽ vượt mức 10% trong năm 2009. Ông Bernanke nhấn mạnh, Mỹ đang cố gắng đảm bảo khủng hoảng không tái diễn. Riêng về gói kích thích kinh tế trị giá 787 tỷ USD của Tổng thống Barack Obama, ông nói phần lớn số tiền được đưa ra trong năm 2010, vì thế vẫn còn quá sớm để đánh giá hiệu quả của nó. Chỉ số lòng tin người tiêu dùng Mỹ tháng 7/2009 giảm lần đầu tiên trong 5 tháng qua, do tỷ lệ thất nghiệp tăng cao và mức lương thấp khiến cuộc sống của các hộ gia đình gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó, kết quả khảo sát của tuần báo Phố Wall với 15 tổ chức tài chính, ngân hàng lớn của Mỹ như J.P. Morgan Chase, Bank of America, Citigroup... cho thấy, tốc độ cho vay đang giảm bớt do cả ngân hàng và khách vay đều cố gắng không mạo hiểm trong bối cảnh bất ổn kinh tế. Cụ thể, tổng số vốn cho vay của các tổ chức này giảm 2,8% trong quý 2/2009, hơn 50% vốn cho vay thực hiện trong tháng 4, 5 là tái tài trợ thế chấp hoặc gia hạn tín dụng, không phải là vay mới. Các ngân hàng này hiện nắm 47% tổng tiền gửi của Liên bang và được nhận khoảng 182,5 tỷ USD thông qua chương trình Giải cứu Tài sản xấu (TARP). Đ.T (theo Xinhua, Bloomberg, Vietnamplus)