Bảy năm kể từ khi tiến trình cải cách công ty chứng khoán được bắt đầu từ năm 2009, số lượng các công ty chứng khoán đã giảm từ 102 về 76 vào cuối tháng 9-2016.

Duong dai tu 102 ve 76 - Anh 1

Các công ty chứng khoán thành lập theo luật định, và sự đào thải của chúng cũng theo luật định. Ảnh: MINH KHUÊ

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (SSC) không đặt mục tiêu đưa số lượng công ty chứng khoán về mức bao nhiêu và thời điểm nào sẽ đạt con số đó, nhưng ông Vũ Bằng, Chủ tịch SSC, trong một lần trao đổi với người viết, cho biết ở các nước Asean, mỗi nước chỉ có 20-40 công ty chứng khoán. Không lẽ phải cần đến 5-7 năm nữa, số lượng công ty chứng khoán ở Việt Nam mới giảm về con số 40-50?

Các công ty chứng khoán thành lập theo luật định, và sự đào thải của chúng cũng theo luật định. Cơ quan quản lý đã nỗ lực đẩy nhanh tiến trình cải cách khối này cả về lượng và chất bằng cách ban hành và kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu tài chính cơ bản. Khi một đơn vị không đáp ứng được các tiêu chí tài chính, nó bị đưa vào kiểm soát đặc biệt và trong thời gian kiểm soát nếu không khôi phục được các tiêu chí sẽ bị rút giấy phép hoạt động.

Thực ra cổ đông nhiều công ty chứng khoán cũng muốn chấm dứt hoạt động bởi rõ ràng họ nhìn thấy sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp chứng khoán và họ không có cơ hội tồn tại. Nhưng họ, đặc biệt các cổ đông sáng lập, muốn chuyển nhượng nhằm vớt vát được đồng nào hay đồng ấy số tiền đã góp vốn đầu tư, trong khi nhu cầu nhận chuyển nhượng hầu như không có. Để kinh doanh có lãi trong một thị trường chứng khoán còn quá nhỏ bé, thanh khoản thấp và mối quan tâm của người dân còn hạn chế, lại phải đầu tư lớn cho công nghệ và nhân lực, không mấy tổ chức, cá nhân muốn bỏ tiền vào.

Các công ty chờ tìm được người mua chỉ còn cách sa thải nhân viên, thu gọn chi nhánh, phòng giao dịch, giảm đầu tư để bảo toàn những đồng vốn còn lại. Những công ty chứng khoán may mắn chưa đẩy mạnh hoạt động tự doanh thì gửi vốn vào ngân hàng hưởng lãi. Công ty nào đã trót tự doanh đành canh thời điểm VN-Index phục hồi để thanh lý danh mục. Sự chờ đợi nào cũng có giới hạn. Đến khi cái giấy phép thành lập và hoạt động của họ không còn được ai đoái hoài tới, họ xin giải thể, chia tiền còn lại cho cổ đông. Công ty Chứng khoán Âu Việt hay Kim Long đã đi theo con đường này.

Quy mô và chất lượng các công ty chứng khoán đang tồn tại chưa phát triển đến độ có thể cáng đáng công việc tư vấn cải cách doanh nghiệp quốc doanh, thoái vốn nhà nước khỏi một loạt “ông lớn”, mà hiện vẫn phải nhờ cậy chủ yếu vào các tổ chức tài chính nước ngoài.

Sự may mắn tự nguyện giải thể không đến với tất cả. Một số công ty vướng vào vòng lao lý, số khác thua lỗ, nợ nần chồng chất. Trong các năm 2009-2011 không ít nhà đầu tư sử dụng dịch vụ ký quỹ, thua lỗ “cháy” tài khoản đã bỏ của chạy lấy người. Hậu quả các công ty chứng khoán phải gánh. Một số đơn vị buộc phải chấm dứt sự tồn tại.

Cho đến nay trong số các công ty chứng khoán còn trụ lại, vẫn còn 25 công ty thua lỗ với tổng số lỗ, theo dữ liệu của Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (Hnx), là 611 tỉ đồng. Với số này khắc phục lỗ, trả hết nợ là câu chuyện không hề đơn giản.

Sáu tháng đầu năm nay, Hnx cho biết, 50 công ty chứng khoán có lãi với tổng lợi nhuận sau thuế hơn 1.800 tỉ đồng. Không chỉ cạnh tranh trong mảng tư vấn, tự doanh, môi giới vẫn là mảnh đất nơi công ty chứng khoán so kè từng cen ti mét thị phần. Hàng quí tốp mười các đơn vị có thị phần môi giới lớn nhất trên sàn TPHCM thay đổi liên tục ở vị trí từ thứ 3 đến thứ 10. Từ mức chiếm khoảng 50% thị phần môi giới toàn thị trường, nay tốp mười đã nắm giữ 60% thị phần, trong đó ba công ty đứng đầu là SSI, HSC và Bản Việt chiếm 28,33%. Khoảng cách về quy mô cũng như hiệu quả kinh doanh giữa các công ty đang phân hóa ngày một cách biệt. Những công ty dẫn đầu sẽ còn tiếp tục bứt phá trong khi nhóm sau “chen chúc” để không bị rớt khỏi “bảng phong thần”.

Đa dạng hóa dịch vụ ký quỹ không còn là nghiệp vụ duy nhất để giữ chân khách hàng trong bối cảnh các công ty có điều kiện phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn, hoặc phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Chưa kể hiện nay đầu tư chứng khoán phải dài hơi, chiến thuật “đánh nhanh thắng nhanh” không còn hiệu quả, nhà đầu tư không có lợi khi sử dụng dịch vụ ký quỹ với thời hạn vài tháng. Bất chấp mặt bằng lãi suất chung đã giảm, lãi suất cho vay margin ở đa số công ty vẫn rất cao, có đơn vị trên 12%, thậm chí 13%/năm. Ngay cả những công ty chứng khoán có ngân hàng mẹ đứng sau, lãi suất margin cũng không dưới 10%/năm.

Để thu hút khách hàng mới, các công ty phải đầu tư cho mảng phân tích doanh nghiệp, cung cấp thông tin về từng nhóm, thậm chí từng cổ phiếu. Họ không chỉ phát triển mối quan hệ với các công ty niêm yết để cập nhật thông tin, mà còn kết hợp tư vấn cổ phần hóa, niêm yết doanh nghiệp với hoạt động tự doanh cộng môi giới. Không ít nhà đầu tư “cá mập” (có doanh số giao dịch cao và thường xuyên) được “ăn theo” danh mục tự doanh của các công ty chứng khoán.

Trước đây các công ty chứng khoán còn đua nhau “mồi chài” các nhà đầu tư tổ chức, các quỹ nước ngoài, nay điều này dường như đã giảm bớt. Trong thời gian qua, không có nhiều các quỹ mới đủ lớn vào thị trường. Số tài khoản mới mở của nhà đầu tư ngoại chủ yếu cá nhân và theo một số môi giới, cá nhân nước ngoài giao dịch doanh số cao tương đối hiếm.

Ảnh hưởng của công ty chứng khoán lên thị trường tài chính, tiền tệ không mạnh mẽ như tác động của ngân hàng và tổng nợ xấu của công ty chứng khoán quá nhỏ so với nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng, thậm chí chưa bằng nợ xấu của một ngân hàng nhỏ. Nhờ thế tái cấu trúc công ty chứng khoán đã không gây nhiều xáo trộn. Diễn ra chậm chạp, nhưng cuối cùng sự thu hẹp số lượng công ty chứng khoán cũng đến. Sự thiếu vắng mà thị trường đang đòi hỏi chính là quy mô và chất lượng các công ty chứng khoán đang tồn tại chưa phát triển đến độ có thể cáng đáng công việc tư vấn cải cách doanh nghiệp quốc doanh, thoái vốn nhà nước khỏi một loạt “ông lớn”, mà hiện vẫn phải nhờ cậy chủ yếu vào các tổ chức tài chính nước ngoài.