Không phải cứ đổ tiền vào nợ xấu là nợ xấu hết được ngay. Quan trọng phải là công tác quản lý, kiểm soát, giám sát nợ cho tốt.

Ông Nguyễn Ngọc Phương - đoàn ĐBQH Quảng Bình thẳng thắn cho biết, xử lý nợ xấu ở Việt Nam không phải chỉ có tiền là làm được.

Dung du tru ngoai hoi xu no xau: Viet Nam khong giau - Anh 1

Ông Nguyễn Ngọc Phương - ĐBQH Quảng Bình

PV:- Thưa ông, bàn về giải pháp xử lý nợ xấu và nguồn tiền xử lý nợ xấu, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển kinh doanh (BDI) khẳng định, quỹ dự trữ quốc gia là nguồn tiền duy nhất và khả thi nhất để xử lý nợ xấu hiện nay. Ông bình luận thế nào về quan điểm trên? Với lượng dự trữ ngoại hối hiện tại, liệu có đảm bảo an toàn cho nền tài chính khi đặt ra vấn đề dùng nguồn tiền này xử lý khoản nợ xấu đang ở mức trên 200.000 tỷ đồng (khoảng 10 tỷ USD)?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương: - Theo tôi biết, trên thế giới, giải pháp có hiệu lực mạnh nhất trong xử lý nợ xấu mà các nước đang áp dụng vẫn là phải sử dụng tới nguồn lực của nhà nước. Nguồn lực đó có thể lấy từ ngân sách quốc gia cũng có thể được trích từ quỹ dự trữ quốc gia. Đó là giải pháp xử lý nhanh, hiệu quả nhất mà họ đang làm.

Tuy nhiên, ở Việt Nam không thể áp dụng cứng phương pháp này vì Việt Nam không giàu, không sẵn tiền mặt và quỹ dự trữ quốc gia cũng không nhiều.

Vì lý do đó nên thời gian qua chúng ta cũng chỉ đưa ra các giải pháp xử lý nợ xấu mang tính vừa làm dừa dò như thông qua VAMC, trích từ nguồn trích lập quỹ dự phòng rủi ro của các NHTM... Vì thế mà có xử lý nợ xấu nhưng gần như không mang lại hiệu quả.

Về tâm lý chung, việc lấy tiền ngân sách theo cách lấy từ quỹ dự trữ quốc gia hay từ nguồn thuế của dân đem đi giải cứu các DNNN hay các NHTM từng làm ăn thua lỗ do quản lý yếu kém, không hiệu quả chắc chắn không bao giờ nhận được sự đồng thuận từ dư luận.

Người dân còn rất nặng tâm lý nợ nần, vì lo ngại cho túi tiền quốc gia, vì vấn đề an ninh tiền tệ... nên việc rút tiền từ quỹ dự trữ quốc gia để xử lý nợ xấu tạo suy nghĩ mạo hiểm và hoài nghi về tính hiệu quả của nó, nhất là trong bối cảnh của Việt Nam.

Quan trọng hơn theo tôi nghĩ, với một nền kinh tế non yếu như Việt Nam nếu phải rút bớt nguồn tiền từ một cái quỹ vốn rất nghèo nàn thì khi có biến động nền kinh tế lấy gì để chống đỡ, trụ vững được đây?.

Tôi rất băn khoăn. Vì vậy, tôi cho rằng dùng ngân sách xử lý nợ xấu của Việt Nam chưa phải là giải pháp hay.

PV:- Ngay từ đề xuất dùng ngân sách xử lý nợ xấu, các chuyên gia đã chỉ rõ, không thể để nhà nước (hay thực chất là tiền thuế của dân) gánh thay rủi ro của các ngân hàng thương mại, đặc biệt, ngân hàng thương mại đã được tạo điều kiện để xử lý nợ xấu bằng hoạt động của VAMC nhưng các ngân hàng thương mại đã không làm nghiêm túc, khiến cho nợ xấu vẫn không thay đổi. Ông có đồng tình với ý kiến này hay không và tại sao?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương: - Tôi vẫn nhấn mạnh, xử lý nợ xấu bằng tiền tươi là giải pháp tối ưu và hiệu quả nhất nhưng nó phải phù hợp với điều kiện và bối cảnh của mỗi quốc gia.

Với Việt Nam, tôi vẫn khẳng định không nên sử dụng ngân sách để xử lý nợ xấu vì: Việt Nam còn đang rất nghèo, nguồn dự trữ ngoại hối không đáng kể. Quan trọng hơn, NHTM mới chính là nguyên nhân khiến nợ xấu quốc gia tăng nhanh chóng mặt thời gian qua thì không ai bàn tới.

Do cách thức điều hành quản lý yếu kém tại các NHTM mới dẫn tới tình trạng cho vay bừa bãi, không kiểm soát được, gây thất thoát, thua lỗ, sinh nợ xấu. Đây là lỗi của phía các NHTM, họ phải tự chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu do chính mình gây ra.

PV:- Nếu vậy, nghĩa lànếu dùng tiền tươi xóa sạch nợ xấu mà không chấn chỉnh hoạt động của các ngân hàng thương mại thì nợ xấu vẫn tiếp tục nảy sinh. Vì nợ xấu được xóa nhưng nguồn gốc gây nên nợ xấu không được giải quyết, thưa ông?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương: - Đúng vậy. Yếu tố quan trọng trong vấn đề xử lý nợ xấu, ngăn chặn nợ xấu phát sinh là chính là thắt chặt các hoạt động cho vay vốn đầu tư, phê duyệt, thẩm định dự án... Các vấn đề này phải được giải quyết triệt để mới mong ngăn chặn được nợ xấu mới phát sinh.

Tuy nhiên, cũng vẫn có những nợ xấu phát sinh do trong quá trình kiểm soát đầu tư của nhà nước và các cơ quan chức năng còn thiếu trách nhiệm, năng lực thẩm định hạn chế dẫn tới nguồn vốn đầu tư lớn nhưng lại không hiệu quả.