Bài 2: Sống chung với...không có lũ

Lâu nay người ta thường nói “sống chung với lũ” là để bày cho người dân cách thích nghi với những năm có mùa nước lớn - lũ về nhiều. Những năm gần đây thì nước ít - lũ nhỏ, thậm chí ngày càng cạn kiệt thì không ít người dân vùng này lại “tỉnh bơ” bảo rằng: không có nước thì tập sống chung với… không có lũ. Thực tế nhiều nơi ở đây đã làm được như thế! Tạo ra sản vật mùa nước nổi Quả thật, sau mấy ngày về “sống chung với vùng không có lũ”, chúng tôi thật sự bất ngờ, thú vị trước sự “đi tắt đón đầu” của nhiều người dân và chính quyền ở nơi đây. Họ chủ động sản xuất ra những sản vật chỉ có được khi mùa nước lên - lũ về mới có. Như ở An Giang, mấy năm liền nước không lớn - lũ không về, những thứ mà người dân kiếm sống trong mùa lũ nay khan hiếm thì họ chủ động nuôi, trồng. Như năm 2009, toàn tỉnh triển khai 10 mô hình nuôi trồng thủy sản trong mùa nước nổi (điều kiện nước ít, lũ không về), như nuôi lươn trong bể đất, nuôi ếch, cá đồng trong bè tre nhỏ, nuôi đăng quầng, nuôi chân ruộng… thu hút gần 9.000 hộ tham gia, giải quyết việc làm cho gần 17.000 lao động nhàn rỗi trong mùa nước nổi, thu về hàng chục tỷ đồng cho người dân vùng lũ. Hay trồng những loại cây thủy sinh trên mặt nước như sen, ấu, rau nhút, lục bình… đặc biệt là trồng cây điên điển. Chỉ tính năm 2009 người dân đã trồng được 36ha cây điên điển, năm nay tăng lên 42ha, giải quyết việc làm cho hơn 300 hộ. Chị Vân, một người dân trồng cây điên điển ở Châu Đốc cho biết, nước ít nên điên điển cũng ít, nếu có bông cũng không nhiều. Trong khi bông điên điển là sản vật đặc trưng của mùa nước nổi ở vùng lũ nên giá rất đắt. Thấy tiếc nếu mùa lũ mà không có bông điên điển nên chị và nhiều hộ dân ở đây nhanh tay trồng ngay cây điên điển nên thu lợi từ nó cũng rất cao. Cũng theo chị Vân, có lúc bông điên điển lên 60.000 - 70.000 đồng/kg, cũng không có để mà bán. Ông Đỗ Vũ Hùng, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT An Giang, cho biết mô hình nuôi thủy sản, trồng những loại cây thủy sinh này phù hợp với mùa nước nổi, nó thu hoạch sớm, cho lợi nhuận cao. Nhưng cái chính là giải quyết việc làm cho những người dân nghèo lâu nay chỉ sống cầu may vào mùa nước nổi. Ngay như ở thị xã Tân Châu, theo chị Kiệp, Trưởng phòng Kinh tế, những hộ dân nghèo của thị xã lâu nay kiếm sống theo mùa lũ, nay không có lũ thì họ đi làm thuê mướn cho những người dân sản xuất rau màu trong vùng đê bao nên nước ít hay nhiều không ảnh hưởng gì lớn đến cuộc sống hàng ngày của họ. Nhất là hiện nay thị xã đang tập trung đào tạo nghề cho dân, nhất là dân nghèo nên có lũ hay không có lũ dân sống cũng được. Còn tại xã Bình Phú của huyện Tân Hồng tỉnh Đồng Tháp, sau mấy bận xã tập cho dân nghèo nuôi trồng thủy sản mùa lũ thấy chưa có kết quả, do nước ít, chi phí thức ăn cao nên xã chuyển về “mô hình cũ”: cho dân nghèo vay vốn từ Chương trình 135 để nuôi bò vỗ béo. Hôm chúng tôi đến xã, cùng lúc gặp anh Chên, Phó Chủ tịch UBND xã - đang xét duyệt hồ sơ cho chị Nguyễn Thị Hiền (ảnh), nhà ở ấp Cái Răng mượn 3 triệu đồng để nuôi bò. Theo anh Chên, hộ chị Hiền là một trong 100 hộ nghèo của xã được xét cho mượn tiền đợt này. Gia đình chị Hiền nghèo, không đất sản xuất nên mùa khô thì đi làm mướn, mùa nước thì kiếm sống bằng nghề câu lưới. Mùa nước này thất bát nên xã xét cho mượn tiền nuôi bò để tập quen dần với điều kiện không có lũ, để giã từ nghề câu lưới… Chủ động sản xuất vụ mùa Hôm chúng tôi về xã Thạnh Trị, một xã vùng sâu biên giới của huyện Mộc Hóa tỉnh Long An, thấy nhiều người dân ở đây đặt máy bơm nước từ kinh mương vào ruộng để trục đất, chuẩn bị xuống giống vụ đông-xuân sớm mà không khỏi bị “sốc”. Thật khó mà hình dung cảnh giữa vùng “rốn lũ” Đồng Tháp Mười, vào những ngày tháng 10 này mà người dân phải bơm nước vào ruộng để trục đất, chuẩn bị xuống giống vụ lúa đông-xuân sớm. Bởi mới năm 2009 đây, tuy nước không nhiều nhưng nó cứ “làm eo làm sách”, mãi tới tháng 11 mà vẫn chưa chịu rút, nóng lòng người dân nơi đây đành phải đặt máy bơm nước ra ngoài để xuống giống vụ lúa đông-xuân (!?). Càng bị “sốc” hơn là mới đây, anh Chên, Phó Chủ tịch xã Bình Phú, cho biết: Ngày 15-10, xã buộc phải bơm nước vào khu đê bao khép kín của xã với diện tích 750ha để trục đất, chuẩn bị xuống giống vụ đông-xuân sớm (!). Theo anh Chên, việc xã bơm nước vào vùng đê bao khép kín để trục đất, xuống giống vụ đông-xuân là chuyện không mới. Bởi năm 1998 xã có làm chuyện này một lần rồi. Trung bình 1ha tốn khoảng 500.000 đồng tiền bơm nước. Nhưng lần này chủ đường bơm nước không thu tiền nên dân đỡ tốn phần này, chứ không thì chi phí đầu tư sẽ đôn lên hơi cao. Cũng theo anh Chên, cái được lớn nhất ở đây là sản xuất vụ mùa trong điều kiện không có lũ, tuy chi phí đầu tư có tăng nhưng dân sẽ quen dần cảnh không có lũ. Riêng ở Chợ Mới, Tân Châu của tỉnh An Giang, người dân và chính quyền đã “sống chung với … không có lũ” từ nhiều năm nay bằng hệ thống đê bao khép kín nội đồng. Theo chị Kiệp, Trưởng phòng Kinh tế thị xã Tân Châu: “Nhiều năm nay, lũ ít hay lũ nhiều không ảnh hưởng lớn đến sản xuất vụ mùa của người dân vùng này”. Cũng theo chị Kiệp, toàn thị xã có 13.000ha diện tích đất sản xuất nông nghiệp thì trong này có tới 11.000ha nằm trong đê bao. Số còn lại dân chủ động sản xuất giống cây trồng phù hợp để né lũ, nếu năm nào dự báo có lũ sớm. Còn ở Long An, ông Lê Minh Đức, Giám đốc Sở NN-PTNT, cho biết: Đông-xuân là vụ lúa chính trong năm, trong điều kiện không có nước như năm nay chắc chắn dự báo vụ đông-xuân tới sẽ gặp nhiều khó khăn. Chi phí đầu tư cho bơm trục, thuốc diệt cỏ, sâu rầy, phân bón sẽ tăng, đương nhiên sẽ tăng giá thành hạt lúa, nhưng có thể bù lại là lúa sẽ được thu hoạch sớm, giá sẽ cao… Cũng theo ông Đức, dự báo là sản xuất vụ lúa đông-xuân này có nhiều bất trắc nên tỉnh đã chỉ đạo cho các địa phương, các ngành liên quan đẩy nhanh công tác kiểm tra, rà soát các khâu để chủ động xuống giống vụ lúa đông-xuân. Theo đó, các địa phương đã được yêu cầu thống nhất lịch thời vụ xuống giống (chủ yếu ở các huyện vùng lũ Đồng Tháp Mười của tỉnh); kiểm tra hệ thống thủy lợi và các trạm bơm để chủ động đối phó khi gặp khô hạn, thiếu nước. Ngành thủy lợi phải thường xuyên kiểm tra độ mặn thế nào để phòng khi nước nội đồng kiệt, nước mặn xâm nhập; Ban quản lý chống bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá cũng được củng cố, bởi kinh nghiệm cho thấy, năm 1998 lũ ít, sau lũ là lúa vướng bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá. Còn công tác cấp bách hiện nay là Trung tâm khuyến nông đang gấp rút soạn thảo nội dung để phát trên sóng phát thanh - truyền hình kịp hướng dẫn các địa phương, người dân chuẩn bị các bước để xuống giống vụ lúa đông-xuân... Sau vụ đông-xuân này, tỉnh sẽ tổng kết nhiều thứ để “làm mẫu” cho các vụ đông-xuân sau nếu tình trạng không có lũ cứ tiếp tục kéo dài hàng năm như năm nay, tất nhiên là yếu tố hiệu quả kinh tế sẽ được đặt lên hàng đầu. Theo nhiều người, năm nay nước không lớn đã là một “chuyện lạ”, nếu cứ tiếp tục kéo dài nhiều năm như thế thì đây thật sự là một “đại họa” cho vùng ĐBSCL. Bởi nước không lớn - lũ không về, cuộc sống của một bộ phận dân cư nhất là ở các tỉnh vùng ngập lũ sẽ bị thay đổi, đời sống vốn đã khó khăn sẽ càng khó khăn hơn. Thế nhưng, khi đi một vòng về vùng lũ mới phát hiện cái hay của người dân đồng bằng sông Cửu Long, là từ nhiều năm nay họ đã chủ động thủ cái bài “sống chung với… không có lũ”. Chính quyền các cấp ở đây cũng đã thấy và thật sự quan tâm đến việc biến đổi thất thường của thiên nhiên, nhất là mùa lũ, để kịp có những đối sách thích ứng với sự biến đổi của thiên nhiên. Nói như lời chị Kịp, Trưởng phòng Kinh tế thị xã Tân Châu: “Lũ nhiều hay lũ ít cũng chẳng sao, bởi từ lâu dân ở đây đã quen sống với cảnh… không có lũ”. Đăng Nguyên - Trần Yên Hạn lớn tiếp sau lũ nhỏ Đến trung tuần tháng 10-2010, các nhà khoa học đã có chung nhận định: lũ năm nay ở ĐBSCL thuộc dạng thấp kỷ lục. Hàng loạt hệ lụy được cảnh báo cho sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Trong đó, rõ nhất sau lũ nhỏ là nguy cơ hạn lớn Từ năm 2000 tới nay mực nước từ sông Mekong đổ vào ĐBSCL qua sông Tiền và sông Hậu thấp dần. Năm ngoái, sau lũ nhỏ, ĐBSCL đã hứng chịu hạn hán và mặn xâm nhập nghiêm trọng. Năm nay nhiều nơi mực nước lũ thấp hơn trung bình nhiều năm đến 1m. Và kịch bản “đại hạn” sẽ quay lại với vựa lúa ĐBSCL. Không chỉ ĐBSCL, một số vùng của Thái Lan, Lào, Campuchia cũng cùng cảnh ngộ và mức độ nghiêm trọng hơn. Đây là hệ quả nhãn tiền từ việc một số nước xây dựng đập trên sông Mekong. Năm ngoái, mùa khô kiệt, tuyến đường thủy sông Mekong phải ngưng hoạt động. Trước mắt nhiều lão nông ở Đồng Tháp, An Giang đã than phiền, chi phí vệ sinh đồng ruộng, thuốc bảo vệ thực vật sẽ tăng cao khi lũ nhỏ. Nhiều làng nghề truyền thống chuyên khai thác và mưu sinh nhờ lũ cũng trở nên thất bát. Song, hàng loạt vấn đề chưa đánh giá hết tác động khi đồng ruộng không được vệ sinh, lượng phù sa bồi lắng giảm nghiêm trọng. Năm ngoái khi lũ nhỏ, mùa kiệt có hơn nửa triệu hécta đất trồng lúa ở ĐBSCL gặp khô hạn và cần hỗ trợ bơm tưới. Nhưng nguy hại hơn, khi lũ nhỏ xảy ra, nước mặn sẽ xâm nhập theo tỷ lệ nghịch - nhiều nông dân và một số nhà khoa học gọi là “lũ mặn”! Lũ mặn đã làm mất trắng nhiều diện tích trồng lúa ở Kiên Giang, Bạc Liêu hồi năm ngoái. Lũ mặn cũng xâm nhập sâu vào cửa sông tiếp giáp với biển và trực tiếp đe dọa nước sinh hoạt của nhiều đô thị lớn như TP Cần Thơ, TP Vị Thanh (Hậu Giang). Ngành nông nghiệp ĐBSCL cho rằng, phải đánh giá lại các hệ thống thủy lợi, từ đó đầu tư căn cơ nâng cấp, cải thiện để chủ động đối phó với hạn mặn. Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát: sắp tới sẽ quy hoạch lại hệ thống thủy lợi vùng ĐBSCL. Trong đó, có tính tới tác động của biến đổi khí hậu bao gồm nước biển dâng và thay đổi nhiệt và yêu cầu các địa phương phải tuyên truyền và vận động người dân cùng tham gia chống hạn - mặn để giữ lúa, giữ tôm và vạt rừng ở các địa phương. Ông Nguyễn Văn Đồng, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang còn đề nghị Bộ NN-PTNT cho tỉnh Hậu Giang phối hợp với cơ quan nghiên cứu thực hiện dự án trữ nước ngọt trên hệ thống kinh trục. Ý tưởng mới này cũng là hồi chuông cảnh báo về mức độ khốc liệt của hạn - mặn sẽ nghiêm trọng hơn trong tương lai. Đã đến lúc có cái nhìn và giải pháp chiến lược để giữ nước ngọt - được ví như “vàng trắng” trong thế kỷ này. Chính vì vậy, việc sớm xây dựng kịch bản để đối phó với hạn lớn sau lũ nhỏ là cấp bách. Các giải pháp như hoàn chỉnh hệ thống cống ngăn mặn, quản lý, điều tiết nước; trữ nước ngọt trên kinh rạch; thông tin dự báo đỉnh điểm hạn - mặn; khuyến khích người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đặc biệt chuẩn bị các giống lúa chống chịu hạn, mặn, phèn… phải gấp rút kiện toàn để đảm bảo cho vựa lúa ĐBSCL. Cao Phong Đồng bằng sông Cửu Long – Mùa không nước nổi - Bài 1: Lũ không về!