Chỉ với những nhạc cụ thô sơ là ống tre ngà, sợi tơ mỏng manh đã tạo nên một "đặc sản" tinh thần mà chẳng đâu có được. Hát ống - hát ví tưởng chừng đã chìm vào quên lãng thì nay lại được người dân xã Liên Chung (Tân Yên, Bắc Giang) cất lên thật quyến rũ. Các buổi diễn xướng tựa như những "phiên chợ tình" lãng mạn, là nơi biết bao chàng trai cô gái nên duyên vợ chồng.

Nơi kết nối lương duyên

Chạy men theo con đường đất đỏ chật chội về hướng Đông của huyện Tân Yên chúng tôi tới được xã Liên Chung. Từ bao đời nay ở đây vẫn còn "nguyên chất" với những nét quê vốn có. Liên Chung nổi tiếng bởi nhiều di tích lịch sử - văn hóa: Khu danh thắng núi Dành, khu di tích lịch sử Đình Vường, chùa Cống Phường, đặc biệt là đặc sản sâm nam núi Dành.

Biết chúng tôi tìm hiểu về nghệ thuật hát ống - hát ví người dân địa phương chỉ tới thôn Hậu. Đây là thôn nằm ở cuối xã này, liệt vào dạng khó khăn nhất nhưng lại là cái nôi của nghệ thuật hát ống - hát ví. Vẫn giếng nước, sân đình, vẫn lũy tre ôm ấp lấy từng con ngõ. Đời sống ở đây khó khăn là thế, vất vả là thế nhưng những nét phơi phới yêu đời là điều dễ dàng bắt gặp.

Có lẽ vì thế miền đất độc đáo này mới sản sinh ra một môn nghệ thuật hát ống - hát ví đặc sắc. Ông Ngô Xuân Nguyên - Chủ nhiệm CLB hát ống - hát ví Liên Chung tự hào: "Nghệ thuật độc đáo này thực chất xuất phát từ niềm vui trong lao động sản xuất nông nghiệp. Mục đích là để tạo niềm vui, niềm hứng khởi cho thợ cày, thợ cấy làm việc năng xuất. Trong lúc hát họ sẽ tỏ tình, tình tứ với nhau…".

Thời kỳ phong kiến là lúc hát ví - hát ống ở đây rộn ràng nhất, người dân thường xuyên tổ chức những canh hát bên gốc đa Nhã Nam , dưới sân đình làng. Ngày đó các tay thợ cày, thợ cấy, thợ nề… có thể gác tất công việc một bên để tham gia các canh hát. Có những canh hát kéo dài cả ngày trời, có thể kéo dài cả tuần trăng. Các vị lão niên trong làng kể rằng, cuộc khởi nghĩa Yên Thế thời kỳ hòa hoãn lần thứ hai

Một buổi biểu diễn của các nghệ nhân hát ống - hát ví xã Liên Chung, Bắc Giang.

(1897 - 1909) ở Phồn Xương đã diễn ra nhiều cuộc thi hát ống - hát ví. Các cuộc thi được rất nhiều người tham gia, đặc biệt có ông Cả Trọng (con trai cả của cụ Đề Thám) cũng tham gia. Ông là người rất mê hát ống - hát ví và được xem là người hát hay và đối đáp thông minh nhất nghĩa quân Yên Thế bấy giờ. Từ đó người ta đã phát triển loại hình nghệ thuật này thành nhiều thể loại như: Hát họa, hát đố, hát giao duyên, hát giã bạn… Người dân cày gọi thân thương bằng cái tên: Hát cày, hát cấy, hát vơ cỏ…

Không có những lời cổ, tích cổ như hát quan họ hay hát chèo, hát ống - hát ví có thể thay đổi nhịp điệu một cách linh hoạt và lời bài hát thay đổi theo ngẫu hứng và sự phản ứng của người hát. Hát ống - hát ví thực chất là một hình thức hát đối đáp, giao duyên, kết bạn…. Ông Nguyên chia sẻ: "Người hát có thể sáng tác lời bài hát ngay trong lúc lao động, nghỉ ngơi và hát cho nhau bất kỳ lúc nào. Có lẽ vì thế mà lời bài hát hết sức gần gũi, mộc mạc và dễ thuộc". Mỗi khi nam nữ hát với nhau, họ có thể quên đi bao mệt mỏi, nhọc nhằn trong cuộc sống bề bộn lo toan. Cứ như thế hàng trăm năm nay mỗi khi vui, lúc buồn họ lại cất cao những lời hát ngọt ngào mà mộc mạc.

Những câu hát ống - hát ví ngọt ngào là thế, độc đáo là thế vậy mà có những lúc tưởng chừng chẳng còn ai nhớ đến. Và chính nhờ những câu hát mà biết bao nam thanh nữ tú nên vợ nên chồng. Cụ Nguyễn Văn Đài nhớ lại: "Ngày đó ở xã này có nhiều đôi thành vợ chồng nhờ hát ống lắm. Hầu hết những đôi vợ chồng 70, 80 tuổi ở đây nên duyên chồng vợ từ các canh hát ống - hát ví. Mỗi lần tổ chức hát là các đôi trai gái tụ về đây rất đông".

Một động tác đặc biệt trong môn nghệ thuật này.

Có lẽ hiếm có môn nghệ thuật nào lại có những đạo cụ độc đáo như hát ống - hát ví. Thể hát giao duyên này có thêm 2 ống tre ngà được nối với nhau bằng 1 sợi tơ nhỏ. Sở dĩ có như vậy là để tạo khoảng cách giữa nam và nữ. Cụ Đài cười vui vẻ: "Chắc các cụ nhà ta sợ khi say đắm vào từng lời ca tiếng hát mà các nam thanh nữ tú quên đi mất "nam nữ thụ thụ bất tương thân".

Báu vật của cha ông

Như một chiếc micro, hai chiếc ông tre ngà được các nghệ nhân lựa chọn rất kỹ càng. Loại ống tre vừa vặn cả về kích thước, độ dày hay độ già non tre. Thường những chiếc ống có đường kính khoảng 7 - 10 cm, dài chừng 15 - 20 cm. Ống tre được thông hai đầu, một đầu được bít bằng da ếnh. Kết nối giữa 2 chiếc micro đặc biệt này là một sơiå dây tơ tằm cực nhỏ. Sợi dây tơ tằm này được buộc vào hai chiếc kim khâu và đặt vào lòng ống tre. Tùy thuộc vào cự ly hát mà sợi dây ngắn hay dài, thường thì độ dài khoảng 60 - 70 sải tay. Khi bên này hát, âm thanh làm các màng ếch rung lên, tín hiệu âm thanh truyền qua sợi dây tới ống bên kia, người nghe dù đứng xa cả chục mét vẫn nghe rõ tựa như phát ra từ loa nhỏ.

Chính nhờ loại nhạc cụ đặc biệt này mà các chàng trai, cô gái có cơ hội trò chuyện, tâm tình cùng nhau. Họ có thể dùng câu hát nói với n hau những điều gặp nhau không thể nói thành lời. Cụ Đài cười sảng khoái: "Nhiều khi các đôi nam nữ không hát mà nói chuyện thì thầm với nhau. Có lẽ đây là lý do khiến cho nhiều cặp nên vợ nên chồng".

Lời ca của hát ống - hát ví chủ yếu được làm theo thể thơ lục bát, vần vè và rất dễ nhớ. Trong hát ví có thể hát những câu bông đùa, trêu chọc nhau, có thể gây cho bên kia sự bực tức nhưng không bao giờ ghét bỏ, không giận hờn. Chính sự bực tức lại là động lực khiến cho phái bên này phải nghĩ câu hát ứng đối sao cho thỏa đáng, nếu không thì bên thua coi như nợ hẹn lần sau đáp lại.

Như: Nữ hát: "Em đố chàng: Hoa gì sớm nở tối tàn/Trắng, hồng, đỏ thẫm, tím than trong ngày?/Hoa gì trắng đỏ cùng cây?/Hoa gì đêm nở, ban ngày cấm cung? Nam trả lời: Phù dung sớm nở tối tàn/Năm màu thay đổi chan chan trong ngày/Hoa giấy trắng đỏ cùng cây/Hoa quỳnh đêm nở, ban ngày cấm cung… hay lại là những lời giã bạn da diết, nhớ nhung: "Bây giờ bóng đã xế tà/ Chàng gần ở lại, nhà xa em về…".

Ở Liên Chung, hát ống - hát ví có lẽ vẫn còn xa lạ với nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ. Từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước môn nghệ thuật độc đáo này đã từng vắng bóng ở miền Bắc. Tưởng chừng như đã mất nhưng những năm gần đây những người yêu, nặng lòng với hát ống - hát ví đã quyết tâm sưu tầm và gây dựng lại.

Những nghệ nhân có công tái sinh phải kể đến như cụ Thâm, cụ Bơ, cụ Soạn. Lớp sau nữa có: Ông Đài, bà Lai, những người hát hay và có công truyền dạy phải kể đến: Bà Khéo, bà Bính, ông Sang. Cụ Đài chia sẻ: "Thế hệ trẻ hiện nay cũng có nhiều nhân tố hát hay như: Cháu Tân, cháu Xuân Nga. Được cơ quan chức năng quan tâm, phong trào tập hát ống - hát ví ở đây có cơ hội phát triểu rất tốt. Đây là báu vật mà cha ông truyền lại cho nhân dân chúng tôi. Vì thế chúng tôi phải gìn giữ và phát triển cho hậu thế".

Hiện nay, để bảo tồn và khôi phục hát ống - hát ví, tháng 4/2012, CLB hát ống xã Liên Chung đã được thành lập với 31 hội viên. Qua hơn 8 tháng hoạt động các hội viên của CLB đã tập hợp, sưu tầm được hàng trăm lời bài hát từ chính các nghệ nhân trong xã.

Ông Dương Minh Hiểu, Phó Chủ tịch UBND xã Liên Chung cho biết:

Khó khăn lớn nhất là hình thức nghệ thuật này bị mai một cách đây khoảng hai chục năm, nghệ nhân có tâm huyết hiện nay không còn nhiều, kinh phí hoạt động của CLB còn hạn hẹp. Trong một kế hoạch dài hơi, chúng tôi sẽ thu thập những lời ca lời hát cổ và biên soạn những lời bài hát mới để đóng thành quyển, thành tập, sau đó cho ban hành và đưa vào trường THCS để các em hoạt động ngoại khóa. Từ đó sẽ tiếp cận với vốn văn hóa mang bản sắc dân tộc vùng miền này. Bên cạnh đó, chúng tôi seã̈ cử những hạt nhân tiêu biểu trong CLB để giới thiệu lời ca hát ống - hát ví này tới các cháu học sinh. Mỗi lần có sự kiện lớn trong xã Liên Chung lại ngân vang những làn điệu hát ống - hát ví.

Ông Nguyễn Văn Tuyên, Trưởng phòng Văn hóa huyện Tân Yên chia sẻ:

Hát ống là loại hình nghệ thuật có từ rất lâu đời, nó thuộc loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian ở Bắc Bộ. Nhưng vì nhiều lý do mà nhiều năm qua loại hình này đã mai một và dần bị thất truyền. Thứ nhất là do công tác bảo tồn chưa thực sự được quan tâm. Thứ hai là việc triển khai ra cộng đồng dân chúng không nhiều và các nghệ nhân của loại hình này tuổi đã rất cao, chủ yếu từ bảy mươi đến tám mươi tuổi.

Năm 2012, loại hình này mới chính thức được khôi phục bằng việc thành lập Câu lạc bộ hát ống với 30 thành viên. Mỗi tháng sinh hoạt định kỳ từ một đến hai lần ở Đình Vường (Liên Chung, Tân Yên).