Ông Nguyễn Đức Quỳnh, Giám đốc Công ty phần mềm FPT Hồ Chí Minh cho biết, hiện công ty đang gặp khó khăn trong quá trình thực hiện xuất nhập khẩu sản phẩm phần mềm do một số quy định về giấy phép của một số bộ, ngành bị chồng chéo, thời gian nhập hàng hóa kéo dài…

Doanh nghiep gap kho trong xuat nhap khau phan mem - Anh 1

Công chức HQ Sân bay Tân Sơn Nhất kiểm tra thiết bị phần mềm nhập khẩu. Ảnh: T.Hòa

Đó là ý kiến được ông Quỳnh chia sẻ tại buổi tọa đàm trao đổi ý kiến về “Xuất nhập khẩu phần mềm và nội dung số- Hiện trạng, khó khăn, vướng mắc và đề xuất phương án quản lý” do Vụ Công nghệ thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) tổ chức ngày 11-11 tại TP.HCM.

Theo ông Nguyễn Đức Quỳnh, Thông tư số 14/2011/TT-BTTTT ngày 7-6-2011 của Bộ Thông tin Truyền thông quy định đối với các thiết bị thu phát sóng vô tuyến điện phải xin giấy phép hợp quy chuẩn và phải phù hợp với Quy hoạch tần số vô tuyến điện Quốc gia đang gây khó khăn cho hoạt động xuất nhập khẩu phần mềm của doanh nghiệp. Đồng thời, các quy định truyền thống hiện không còn phù hợp với thiết bị tích hợp nhiều tính năng công nghệ khác nhau theo xu thế hiện nay chẳng hạn như quy định về đồng hồ hiện nay có đồng hồ kèm máy đo nhịp tim, Loa có màn hình cảm ứng, mắt kính có tích hợp phần mềm cảm biến… Các quy định không định nghĩa được rõ sản phẩm nhập khẩu là sản phẩm tiêu dùng hay công cụ hỗ trợ nghiên cứu sản xuất.

Đặc biệt, việc nhập hàng mất thời gian, trung bình thời gian xử lý giấy tờ hành chính khoảng 30-40 ngày làm việc cho một lô hàng, trong đó 30 ngày cho việc xin giấy phép từ các cơ quan khác nhau, 10 ngày cho việc thông quan.

Điều này tổn hại trực tiếp tới sản xuất vì các chi phí vận hành tăng theo như: chi phí tăng ca, chi phí điện nước, xe đưa rước công nhân viên, chi phí nhàn rỗi (chờ thiết bị nhập khẩu về)… Ngoài ra, việc chậm trễ nhập hàng còn ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất theo hợp đồng, doanh nghiệp bị phạt, đền hợp đồng. Sức cạnh tranh trong khu vực (Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines) thấp vì thủ tục, hành lang pháp lý không phù hợp.

Ông Quỳnh kiến nghị, đối với các thiết bị điện tử, công nghệ thông tin phục vụ cho mục đích sản xuất nghiên cứu phát triển phần mềm của ngành công nghệ thông tin khi cần xin công văn nhập khẩu chỉ cần tập trung một đầu mối tại Bộ Thông tin và Truyền thông nhằm tiết kiệm thời gian nhập hàng. Có cơ chế tiếp nhận phản ánh của doanh nghiệp cho những phát sinh trong việc xuất nhập khẩu các thiết bị mới, đáp ứng xu hướng công nghệ mới.

Một vướng mắc khác được bà Trịnh Thị Thanh Hà, đại diện Công ty Harvey Nash Việt Nam chia sẻ tại buổi tọa đàm là quá trình hoàn thuế GTGT kéo dài, mất khoảng 1 năm kể từ khi nộp hồ sơ xin hoàn thuế đến lúc được hoàn thuế. Các doanh nghiệp bỏ trốn là điều kiện khách quan, doanh nghiệp chỉ có thể loại trừ các khoản thuế GTGT đầu vào của các doanh nghiệp này đến thời điểm nộp hồ sơ xin hoàn thuế. Tuy nhiên, cơ quan Thuế cập nhật thông tin đến thời điểm kiểm tra hoàn thuế và phạt doanh nghiệp nếu có phát sinh. Việc hoàn trả thiết bị, máy tính cho khách hàng khó khăn, không thể thực hiện.

Ngoài ra, theo đại diện một số doanh nghiệp một số khó khăn hiện đang gặp phải như: quy định tính thuế nhà thầu đối với phần mềm, nội dung số nhập khẩu chưa rõ. Hiện cũng chưa có hướng dẫn về thủ tục, chứng từ đối với hợp đồng xuất khẩu phần mềm qua internet gây khó khăn cho doanh nghiệp khi áp dụng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Không có thống kê chính xác phần mềm xuất nhập khẩu và nội dung số…

Theo đại diện Vụ Công nghệ thông tin, phần mềm, nội dung số là hàng hóa vô hình, tuy nhiên được áp dụng quy trình thủ tục xuất nhập khẩu như hàng hóa hữu hình. Phần mềm, nội dung số chưa có mã số HS. Việc tiến hành thủ tục trên danh nghĩa vật mang tin, chứ không phải là trên phần mềm đó. Điều này gây khó khăn, vướng mắc cho cả cơ quan quản lý và doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã giao Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì nghiên cứu, xây dựng Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thí điểm quản lý hoạt động xuất nhập khẩu phần mềm, nội dung số và dịch vụ phần mềm.

Thu Dịu