Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), hiện sản phẩm dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đã bắt kịp trình độ hiện đại của thế giới, với nguồn vốn trên 6 triệu tỉ, bằng 144% GDP, dư nợ 4,66 triệu tỉ, bằng 111% GDP năm 2015.

Dich vu ngan hang Viet Nam da dat ngon von tren 6 trieu ti dong - Anh 1

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Đây là những số liệu do đại diện NHNN cung cấp tại Hội nghị trực tuyến triển khai trong toàn ngành về việc thực hiện “Đề án nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụngân hàng cho nền kinh tế” (gọi tắt là Đề án 1726).

Gần 100 triệu thẻ ngân hàng đã được phát hành

Theo đó, đại diện NHNN cho biết, trong những năm vừa qua, ngành dịch vụ ngân hàng của Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả lớn.

Cụ thể, kênh cung ứng dịch vụ ngân hàng xét về kênh truyền thống hay hiện đại đã liên tục phát triển.

Đã có 9.787 chi nhánh, phòng giao dịch được mở, với 16.937 ATM, 222.831 POS. Có trên 60 tổ chức tín dụng áp dụng internet banking, 35 tổ chức tín dụng sử dụng mobile banking.

Bên cạnh đó, sản phẩm dịch vụ phát triển đa dạng phong phú, có sản phẩm đã bắt kịp trình độ hiện đại của thế giới.

Minh chứng là nguồn vốn dịch vụ ngân hàng đã đạt trên 6 triệu tỉ, bằng 144% GDP, dư nợ 4,66 triệu tỉ, bằng 111% GDP năm 2015.

Tính đến cuối năm 2015, đã phát hành được 99,52 triệu thẻ, giá trị giao dịch qua thẻ đạt 230.600 tỉ đồng.

Có 37/44 ngân hàng thương mại triển khai ví điện tử, quản lý tài sản, tư vấn tài chính đã bước đầu phát triển.

Chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cải thiện theo hướng hiện đại, tiện ích, giảm thủ tục vàchi phí giao dịch.

Cùng với đó, mức độ sử dụng dịch vụ ngân hàng cũng gia tăng mạnh với tổng tài khoản cá nhân đạt 36,77 triệu tài khoản vào năm 2015, gấp 15 lần năm 2004.

Có 20,67% người trưởng thành khu vực nông thôn có khoản vay ở tổ chức tài chính. Thanh toán qua internet gia tăng 30-50%/năm và hiện có khoảng 2 triệu khác hàng sử dụng dịch vụ này.

Thanh toán qua điện thoại di động đạt khoảng 700.000 đồng/người/tháng, giảm tỷ lệ tiền mặt từ 18% (2005) xuống khoảng 11% hiện nay.

Phấn đấu 70% dân số trưởng thành có tài khoản tại các ngân hàng

Bên cạnh những thành tích đạt được, NHNN cũng cho biết, vẫn còn nhiều khó khăn thách thức mà hệ thống ngân hàng cần cải thiện.

Đó là tỷ lệ thu phí dịch vụ phi tín dụng còn khiêm tốn; gánh nặng cung ứng vốn cho nền kinh tế vẫn dồn lên vai hệ thống ngân hàng cần phải được san sẻ từ thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm; mức độ tiếp cận dịch vụ của dân cư và doanh nghiệp chưa đồng đều theo khu vực địa lý cũng như quy mô kinh doanh...

Chính vì vậy, Đề án 1726 của Thủ tướng chính phủ đề cập đến 3 vấn đề xuyên suốt từ mục tiêu đến các giải pháp cần phải đạt được, như: gia tăng kênh cung ứng dịch vụ ngân hàng; gia tăng số lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, thiết kế đơn giản, dễ tiếp cận đối với người dân, doanh nghiệp, nhất là người dân vùng sâu, vùng xa, đối với người nghèo; gia tăng về mức độ sử dụng DVNH đối với người dân và doanh nghiệp.

Cụ thể, Đề án 1726 xác định rõ mục tiêu tổng quát, 8 mục tiêu cụ thể cần đạt được đến năm 2020.

Thứ nhất là 70% dân số trưởng thành có tài khoản tại các ngân hàng.

Thứ hai, có ít nhất 20 chi nhánh, phòng giao dịch/100.000 dân số trưởng thành.

Thứ ba, có khoảng 30.000 máy ATM (40 máy/100.000 dân số trưởng thành).

Thứ tư, có 300.000 POS (400 POS/100.000 dân số trưởng thành).

Thứ năm, có khoảng 15% số chi nhánh và phòng giao dịch của ngân hàng thương mại mở tại địa bàn nông thôn.

Thứ sáu, có khoảng 35-40% người trưởng thành ở nông thôn có tiết kiệm tại tổ chức tín dụng.

Thứ bảy, có khoảng 50-60% doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động tiếp cận tín dụng.

Cuối cùng, tăng gấp 2 lần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ phi tín dụng.

Duyên Duyên